Thursday, January 29, 2009

Ý kiến hữu ích cho các sinh viên muốn du học Hoa Kỳ

Ý kiến hữu ích cho các sinh viên muốn du học Hoa Kỳ (phần cuối)
Trà Mi, phóng viên đài RFA
2009-01-27

Bên cạnh du học tự túc, du học học bổng, còn có một chương trình đi du học Hoa Kỳ khác mà các học sinh Việt Nam có thể đăng ký. Đó là chương trình “Trao đổi văn hoá”.

Courtesy Vietnamnet

Tìm hiểu về các đại học Mỹ

Chương trình “Trao đổi văn hoá”.

Chương trình này dành cho đối tượng nào? Thời hạn kéo dài bao lâu? Muốn tham gia đăng ký thế nào? Điều kiện ra sao? Những thuận lợi và khó khăn thường gặp, cùng những lời khuyên dành cho các bạn sẽ được anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam (IVCE), chia sẻ qua câu chuyện với Trà Mi trong phần cuối loạt bài 4 kỳ về du học Mỹ:

Điều kiện tham gia bao gồm học sinh phải có học lực trên 7,0. Thứ hai, học sinh phải thi bài kiểm tra tiếng Anh SLEP, đạt trên 75% số điểm. Đó là hai điều kiện chính để nộp đơn tham gia vào chương trình này.
Trần Thắng

Trần Thắng: Chương trình Trao đổi văn hoá dành cho học sinh lớp 10-12, nhưng đa phần bây giờ dành cho học sinh lớp 11. Thời gian học kéo dài 10 tháng.

Trà Mi: Muốn tham gia thì đăng ký như thế nào, những điều kiện ra sao, thưa anh?

Trần Thắng: Điều kiện tham gia bao gồm học sinh phải có học lực trên 7,0. Thứ hai, học sinh phải thi bài kiểm tra tiếng Anh SLEP, đạt trên 75% số điểm. Đó là hai điều kiện chính để nộp đơn tham gia vào chương trình này.

Trà Mi: Bài kiểm tra SLEP đăng ký thi ở đâu ạ?

Trần Thắng: SLEP là bài thi quốc tế giống như TOEFL nhưng dành cho học sinh. Ở Sài Gòn và Hà Nội có những trung tâm du học. Trong đó có một số trung tâm họ có chương trình Trao đổi văn hoá này. Những trung tâm này họ sẽ tổ chức các kỳ thi SLEP để học sinh đăng ký thi ngay tại trung tâm.

Trà Mi: Có những điều kiện nào khác kèm theo chẳng hạn như về tài chánh?

Trần Thắng: Các lệ phí điều hành chương trình là khoảng 7 ngàn đô la Mỹ.

Trà Mi: Nghĩa là học sinh phải tự túc khoản chi phí này?

Trần Thắng: Vâng, đây là lệ phí để họ tổ chức, trang trải cho những người điều phối viên ở Mỹ và cả ở Việt Nam để đưa, đón học sinh qua. Lệ phí này không bao gồm vé máy bay. Học sinh phải tự lo tiền vé. Trong thời gian học 10 tháng ở Mỹ, gia đình Mỹ nhận đỡ đầu sẽ lo mọi chi phí ăn ở, đi lại, bảo hiểm y tế….Học sinh Việt Nam chỉ đóng 7 ngàn đô lệ phí điều hành chương trình thôi.

Học sinh phải tự lo tiền vé. Trong thời gian học 10 tháng ở Mỹ, gia đình Mỹ nhận đỡ đầu sẽ lo mọi chi phí ăn ở, đi lại, bảo hiểm y tế….Học sinh Việt Nam chỉ đóng 7 ngàn đô lệ phí điều hành chương trình thôi.
Trần Thắng

Trà Mi: Gọi là chương trình « Trao đổi văn hoá » thì ngược lại gia đình của người đi học cũng phải đón nhận một học sinh Mỹ đến Việt Nam học hay chăng?

Trần Thắng: Chương trình này đi một chiều, từ Việt Nam sang Mỹ thôi. Một tổ chức đứng ra tìm các gia đình Mỹ đủ tiêu chuẩn để nhận sinh viên từ các nước ngoài vào học, trong đó có Việt Nam.

Trà Mi: Những thuận lợi và khó khăn thường thấy khi học sinh tham gia vào chương trình “Trao đổi văn hoá” là gì, thưa anh?
Lợi và bất lợi của chương trình “Trao đổi văn hoá”

Trần Thắng: Chương trình này có nhiều thuận lợi và ngược lại cũng có nhiều bất lợi cho học sinh.

Thuận lợi thứ nhất là học sinh Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với học sinh Mỹ và phương pháp học tập tại trường phổ thông trung học Hoa Kỳ. Tiếp theo là học sinh có điều kiện học tiếng Anh tốt hơn và tăng khả năng tự lập, tự tin.

Hầu hết học sinh Việt Nam phụ thuộc vào gia đình. Cha mẹ lo hết, họ không tự lo gì cả. Khi họ một mình qua Mỹ phải tự lo mọi việc. Như thế chương trình này sẽ giúp rất nhiều cho học sinh về lĩnh vực này. Ngoài ra, học ở trường phổ thông trung học ở Mỹ là một bước đệm trước khi vào đại học Mỹ. Hơn nữa, học sinh có thể được những thư giới thiệu tốt từ các thầy giáo dạy mình.

Ngược lại, những bất lợi có thể nảy sinh là học sinh lớp 11 ở Việt Nam sang Mỹ đúng ra phải vào học lớp 12, nhưng một số trường Mỹ không cho học lớp 12, bắt buộc học sinh phải học lớp 11.

Trong trường hợp này mình phải liên lạc với người tư vấn của trường trung học Mỹ mà mình đăng ký tới học để xin thi một số môn miễn phí. Sau đó mình đựơc vào học lớp 12. Hoặc giả có nhiều trường cho mình học lớp 12 nhưng không cấp bằng phổ thông trung học. Trường hợp đó, học sinh phải thi lấy bằng GED, tương đương với bằng phổ thông trung học, thi tại Mỹ luôn.

Các môn thi của GED cũng không khó lắm. Khi mình làm hồ sơ nhập học đại học người ta cũng chưa đòi hỏi bằng GED, nên khi nào mình có thời gian thuận tiện nhất thì mình thi cũng đựơc, không nhất thiết phải thi sớm trong lúc mình học lớp 12 tại Mỹ.

Trường hợp nữa là nếu học xong lớp 11 mà họ không cho mình học tiếp lớp 12 thì mình có thể xin học lớp 12 tại một trường khác, hoặc có thể mình xin học ở nước khác như Úc, Canada, Singapore, rồi sau đó mình chuyển về đại học ở Hoa Kỳ cũng được.

Có luật là học sinh dưới 18 tuổi muốn học ở Mỹ thì phải có người đỡ đầu. Theo chương trình Trao đổi văn hoá thì người ta hợp đồng bảo trợ 1 năm thôi. Mình muốn một năm thứ hai nữa thì mình phải nói chuyện với gia đình đỡ đầu. Nếu họ đồng ý nhận đỡ đầu thêm một năm nữa thì trường tiếp tục cho học tiếp 1 năm nữa.

Trà Mi: Tức là học sinh có cơ hội kéo dài thêm 1 năm nữa.

Trần Thắng: Vâng, thêm một năm thứ hai, nếu mình sang học lớp 11 thì có cơ hội học thêm lớp 12. Tuỳ trường hợp mà mình giải quýêt vấn đề.

Trà Mi: Nhưng nhất thiết là ngay sau khi kết thúc việc học, học sinh phải trở về nước phải không ạ?

Có luật là học sinh dưới 18 tuổi muốn học ở Mỹ thì phải có người đỡ đầu. Theo chương trình Trao đổi văn hoá thì người ta hợp đồng bảo trợ 1 năm thôi. Mình muốn một năm thứ hai nữa thì mình phải nói chuyện với gia đình đỡ đầu. Nếu họ đồng ý nhận đỡ đầu thêm một năm nữa thì trường tiếp tục cho học tiếp 1 năm nữa.
Trần Thắng

Trần Thắng: Đúng rồi vì visa họ cấp chỉ 12 tháng. Sau khi học xong 1 năm, học sinh phải về lại Việt Nam. Sau đó mới quay lại học tiếp lớp 12 hay đại học tuỳ trường hợp.

Trà Mi: Anh có lời khuyên nào dành cho các bạn học sinh-sinh viên Việt Nam đang có hoài bão dự định đi du học ở Mỹ không?

Trần Thắng: Theo tôi, học sinh muốn đi du học Hoa Kỳ, trước hết các bạn phải có tính tự tin, tự lập, và kỷ luật rất cao. Trong khi đó đa phần học sinh Việt Nam đựơc gia đình lo hết giấy tờ. Nếu các bạn để gia đình lo thì qua đây sẽ gặp nhiều khó khăn. Gia đình chỉ là yếu tố phụ giúp mình thôi. Chính bản thân mình phải tự lo mọi việc.

Trà Mi: Cảm ơn anh rất nhiều đã dành thời gian và những thông tin rất cần thiết dành cho các bạn học sinh-sinh viên Việt Nam.

Trần Thắng: Cảm ơn Trà Mi. Nhân mùa học 2009, xin chúc các bạn học sinh-sinh viên Việt Nam đạt nhiều thành công trong vấn đề du học Hoa Kỳ.

Loạt bài 4 phần về du học Hoa Kỳ mà chúng tôi liên tiếp gửi đến quý vị trong các chương trình phát thanh gần đây bàn về 4 chủ điểm chính, bao gồm:

-Những bước chuẩn bị bắt buộc

-Những điều cần biết để chọn trường hợp lý, vừa sức

-Kinh nghiệm xin học bổng và các học bổng hiện hành dành cho sinh viên Việt Nam

-Chương trình Trao đổi văn hoá

Toàn bộ được lưu trữ trên trang web www.rfa.org để quý vị nghe và xem lại. Các thông tin liên quan đến du học Mỹ có đăng trên trang web của Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam (IVCE), một tổ chức phi lợi nhuận chuyên cung cấp thông tin về du học Hoa Kỳ, nhằm giúp phát huy trao đổi văn hoá, giáo dục Việt-Mỹ.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Tips-for-students-planning-to-study-abroad-in-the-us-part4-01272009134942.html

Wednesday, January 21, 2009

Ý kiến hữu ích cho các sinh viên muốn du học Hoa Kỳ

Ý kiến hữu ích cho các sinh viên muốn du học Hoa Kỳ
2009-01-21

Số lượng du sinh cũng như nhu cầu du học của học sinh-sinh viên Việt Nam ngày một tăng cao và đặc biệt nhắm đến Mỹ, quốc gia có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới.

photo courtesy www.ivce.com

anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam (IVCE)

Thống kê của Viện Giáo dục Quốc tế cho thấy số du sinh Việt theo học tại các trường đại học Hoa Kỳ tính từ năm 2000 đến năm ngoái đã tăng hơn 4 lần.
Những điều căn bản phải chuẩn bị

Nhằm mang đến các bạn trẻ những lời khuyên hữu ích của giới chuyên môn từ khâu chuẩn bị hồ sơ, chọn trường, đến tìm kiếm các nguồn học bổng, Trà Mi thực hiện loạt bài nhiều kỳ với sự cộng tác của anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam (IVCE), một tổ chức phi lợi nhuận chuyên cung cấp thông tin về du học Hoa Kỳ, giúp phát huy trao đổi văn hoá, giáo dục Việt-Mỹ.

Thứ nhất là các bài thi quốc tế bắt buộc bao gồm điểm SAT cho chương trình cử nhân và kỹ sư; điểm GRE cho chương trình thạc sĩ và tiến sĩ; điểm GMAT cho chương trình quản trị kinh doanh MBA.

Trong phần một sau đây, anh Thắng sẽ trình bày về các điểm chính cần phải chuẩn bị cho bộ hồ sơ đi du học Mỹ:

Trần Thắng: Thứ nhất là các bài thi quốc tế bắt buộc bao gồm điểm SAT cho chương trình cử nhân và kỹ sư; điểm GRE cho chương trình thạc sĩ và tiến sĩ; điểm GMAT cho chương trình quản trị kinh doanh MBA.

Thứ hai là điểm học tại các trường đại học ở Việt Nam phải dịch ra tiếng Anh. Thứ ba là thư cá nhân. Thứ tư là thư giới thiệu. Thứ năm là kinh nghiệm việc làm và nghiên cứu. Thứ sáu phần phụ là về sinh hoạt xã hội. Thứ bảy là điểm TOEFL.

Trà Mi: Anh vừa nói về SAT, GRE, GMAT, những bài thi này từng loại có nội dung như thế nào, thưa anh?

Trần Thắng: SAT gồm toán và anh văn, thi ba phần. Mỗi phần 800 điểm.

GRE bài thi gồm 3 phần: toán, tiếng Anh, và viết. Mỗi phần 800 điểm. Ngoài ra còn có GRE subject tức là chuyên ngành chỉ 1 môn như lý, hoá…Mỗi phần tối đa là 990 điểm.

GMAT cũng gồm 3 phần: toán, anh văn, viết phân tích. Toán và viết phân tích tổng số điểm là 800. Riêng phần viết khoảng 6 điểm.
Điểm yêu cầu tối thiểu đối với từng bài thi

Trà Mi: Điểm yêu cầu tối thiểu đối với từng bài thi, ít nhất thí sinh phải đạt bao nhiêu mới được xem là đạt yêu cầu?

Thang điểm của mình không theo hệ thống GPA của Mỹ là 4.0, vì thế mình cần phải viết thêm một lá thư giải thích bảng điểm của mình thuộc loại trung bình, khá, hay giỏi. Nhiều khi 8 điểm đối với Việt Nam là điểm giỏi nhưng tính tương đương với Mỹ 80% chỉ là điểm khá thôi

Trần Thắng: SAT tối thiểu phải đạt 1700 điểm. Ai muốn tìm học bổng thì phải đạt trên 1900.

GRE toán phải tối thiểu 700, anh văn tối thiểu 450, viết tối thiểu phải đạt từ 3 hoặc 4 điểm trên 6.

GMAT tối thiểu cho hai phần toán và verbal khoảng 550, phần viết khoảng 3,5 hay 4 điểm trên 6.

Điểm càng cao thì cơ hội tìm học bổng càng nhiều hơn.

Trà Mi: Thế còn danh mục thứ hai mà anh vừa liệt kê, những thành tích học tập của ứng viên khi còn ở Việt Nam, thì như thế nào?

Trần Thắng: Thang điểm của mình không theo hệ thống GPA của Mỹ là 4.0, vì thế mình cần phải viết thêm một lá thư giải thích bảng điểm của mình thuộc loại trung bình, khá, hay giỏi. Nhiều khi 8 điểm đối với Việt Nam là điểm giỏi nhưng tính tương đương với Mỹ 80% chỉ là điểm khá thôi. Cho nên mình cần thư bổ sung để giải thích rõ điểm học tại Việt Nam. Ngoài ra, nếu học sinh giỏi có thành tích thi chuyên của trường, của thành phố, quốc gia, hay quốc tế nên bổ sung vào để hồ sơ của mình được phong phú hơn.
Các loại thơ giới thiệu

Trà Mi: Còn phần thư từ bao gồm thư cá nhân, thư giới thiệu, anh có điều gì muốn chia sẻ, lưu ý với các bạn thêm không?

Trần Thắng: Thư cá nhân rất quan trọng. Đa phần sinh viên Việt Nam mình không để ý đến phần này. Thư này rất ngắn, trình bày đầy đủ tư tửơng của người sinh viên về việc học, chọn ngành, đam mê, cống hiến…Chỉ khoảng 500 chữ thôi, mình phải tập trung viết thế nào để gây ấn tượng. Tại vì người xét hồ sơ họ xét hàng ngàn lá thư. Cái nào không ấn tựơng thì họ sẽ bỏ qua một bên. Như vậy khả năng họ chọn mình sẽ thấp hơn.

Muốn viết thư cá nhân hay thì các bạn sinh viên Việt Nam nên tham khảo các thư mẫu trên các websites hay website của IVCE để xem cách viết.

Còn thư giới thiệu cũng là trở ngại thứ hai đối với sinh viên Việt Nam. Thư này do những người thầy hay sếp viết. Đa phần ở Việt Nam không có thủ tục viết thư này, nên những người được yêu cầu không biết viết như thế nào cho đáp ứng yêu cầu của các trường đại học Hoa Kỳ. IVCE chúng tôi có một dàn bài mẫu. Khi học sinh Việt Nam muốn nhờ thầy hay sếp viết thư giới thiệu nên đưa dàn bài mẫu này cho họ biết để họ viết đúng ý tưởng các trường bên Mỹ cần.

Thư cá nhân rất quan trọng. Đa phần sinh viên Việt Nam mình không để ý đến phần này. Thư này rất ngắn, trình bày đầy đủ tư tửơng của người sinh viên về việc học, chọn ngành, đam mê, cống hiến…

Vấn đề thứ hai là về Anh ngữ. Đa phần các giáo sư hay sếp ở Việt Nam tiếng Anh không tốt, viết thư tiếng Anh không được. Vì thế họ có thể viết bằng tiếng Việt rồi nhờ những trung tâm dịch thuật dịch ra dùm.

Trà Mi: Làm sao vẫn đảm bảo được tính bảo mật của bức thư?

Trần Thắng: Lá thư này hoàn toàn do người thầy giáo thực hiện, học sinh không được đụng tới. Học sinh nhờ người thầy viết thư giới thiệu bằng tiếng Việt rồi người thầy mang đến địa điểm dịch thuật dịch ra tiếng Anh. Cuối cùng, người thầy bỏ vào bì thư dán lại và ký tên rồi mới đưa cho học sinh.

Trà Mi: Điểm kế tiếp về kinh nghiệm xã hội, nghiên cứu. Sinh viên học sinh Việt Nam hơi lơ là đối với vấn đề này…

Trần Thắng: Sinh viên Việt Nam hơi thụ động, thiếu thực tế, chỉ lo học chứ không lo đi tìm việc làm, nghiên cứu. Khoảng năm 1-2 đại học nên bắt đầu tiếp xúc với thầy giáo để xin vào làm trong phòng thí nghiệm, hay tham gia các công trình nghiên cứu, làm thiện nguyện cho các tổ chức NGO để lấy kinh nghiệm chẳng hạn.
Bài thi trình độ tiếng Anh TOEFL?

Trà Mi: Anh liệt kê điểm cuối cùng là điểm bài thi trình độ tiếng Anh TOEFL trong khi nhiều người rất coi trọng bài thi này. Theo anh nói, vậy điểm TOEFL có thật sự cần thiết hay chăng?

Trần Thắng: Đối với tôi, TOEFL là yếu tố cuối cùng vì nó chỉ là chứng chỉ xác nhận bạn đủ khả năng tiếng Anh để đựơc phép học ở Mỹ mà thôi.

Trà Mi: Nhưng khả năng Anh ngữ mới là điểm cần thiết để đi du học?

Trần Thắng: Vâng, cần thiết thôi nhưng ví dụ như điểm SAT của bạn càng cao thì cơ hội tìm học bổng càng nhiều hơn. Ngược lại đối với TOEFL, điểm càng cao cũng như vậy thôi chứ không ảnh hưởng gì đối với hồ sơ nhập học.

Trà Mi: Nhưng nếu không có khả năng Anh ngữ giỏi vẫn có thể đi du học được chăng? Có cách nào khác?

Còn bây giờ có rất nhiều trường hợp sinh viên Việt Nam chưa có điểm TOEFL nộp đơn vào trường đại học Mỹ xin học ESL trước.

Trần Thắng: Có nhiều cách. Mình có thể vào trường đại học Hoa Kỳ xin học tiếng Anh ESL trước. Sau đó, mới vào học chương trình chính khoá. Ngày xưa có điểm TOEFL mới được trường nhận và xin được visa đi du học. Còn bây giờ có rất nhiều trường hợp sinh viên Việt Nam chưa có điểm TOEFL nộp đơn vào trường đại học Mỹ xin học ESL trước.

Trà Mi: Xin hỏi thời gian nộp đơn vào các trường đại học Mỹ thông thường bắt đầu khi nào?

Trần Thắng: Thường thời gian nộp đơn là từ tháng 1-2. Một số trường sớm hơn là khoảng tháng 12. Một số trường muộn hơn kéo dài đến tháng 3. Muốn có một bộ hồ sơ hoàn hảo thì học sinh-sinh viên Việt Nam cần chuẩn bị trong khoảng thời gian một năm.

Trà Mi: Xin cảm ơn anh đã dành thời gian cho buổi nói chuyện hôm nay.

Vừa rồi là Trà Mi và anh Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam (IVCE), trao đổi về những điều kiện bắt buộc khi chuẩn bị lập hồ sơ du học Mỹ.

Giữa vô số các sự lựa chọn đa dạng của hệ thống giáo dục Mỹ, làm thế nào để lựa chọn cho mình một trường thích hợp, vừa sức?

Chúng tôi sẽ giải đáp chi tiết những thắc mắc của các bạn trong buổi phát thanh kế tiếp. Mời quý thính giả đón nghe.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Tips-for-students-planning-to-study-abroad-in-the-us-part-1-01212009141422.html

Sunday, August 24, 2008

Hoa Kỳ cấp học bổng cho 40 sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học

Hoa Kỳ cấp học bổng cho 40 sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học
Aug 21, 2008

Cũng trong ngày hôm qua, Quỹ Giáo Dục Việt Nam đã mở một cuộc họp báo tại Hà Nội để tường trình về chuyến viếng thăm công tác của 14 giáo sư và khoa học gia Mỹ trong thời gian từ 15 tháng 8 tới 18 tháng 8. Nguồn tin cho biết các giáo sư và khoa học gia này đã chia sẽ kinh nghiệm trong lãnh vực quản lý và giảng huấn với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, chia sẻ văn hóa và chuyện trò với sinh viên thuộc Viện Đại Học Kỹ Thuật, Viện Đại Học Quốc Gia tại Hà Nội và một vài cơ sở giáo dục tại Saigon.

Điều đặc biệt là các vị này còn đóng vai giám khảo trong cuộc thi vấn đáp của chương trình học bổng năm 2009 của Quỹ Giáo Dục Việt Nam. Sau cuộc thi này, các vị vừa kể sẽ chọn 40 người xuất sắc nhất trong số 85 ứng viên để qua Mỹ học lấy bằng cao học và tiến sĩ. Theo Giám Đốc Điều Hành Quỹ Giáo Dục Việt Nam, các ứng viên được tuyển chọn sẽ qua theo học tại các viện đại học hàng đầu của Mỹ. Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ quay về Việt Nam làm việc theo một khế ước ký kết giữa Bộ Giáo Dục Đào Tạo và Quốc Hội Mỹ. Tin cho hay kể từ năm 2003, Quỹ Giáo Dục Việt Nam đã gửi 268 sinh viên hậu đại học của Việt Nam qua theo học tại 69 viện đại học hàng đầu của Mỹ.
http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=cd4236b4a02ffc1d29d858bdea317a0f

Saturday, February 16, 2008

Du học: tìm và thuê nhà ở

Du học: tìm và thuê nhà ở
Wednesday, February 06, 2008

Phạm Khoa


Thuê nhà ở là một trong những chi phí lớn nhất của của du học sinh ở Mỹ. Mặc khác, chỉ khi ổn định được một chỗ ở thoải mái, bạn mới có thể yên tâm học tập và sinh hoạt. Vì vậy, đây là vấn đề bạn cần đầu tư nhiều thời gian để nghiên cứu thông tin và tìm kiếm.

CHỖ Ở TẠM THỜI

Nếu quyết định sống ngoại trú, bạn không nên ràng buộc mình ngay vào một hợp đồng thuê nhà khi chưa đặt chân đến Mỹ, vì lúc đó bạn chưa nhìn thấy căn nhà định thuê thật sự ra sao. Bạn nên tìm một chỗ ở tạm thời trước, trong khi tìm nhà thuê.

Nguồn thông tin tốt nhất giúp tìm chỗ ở tạm thời là thông qua trang web của trường, phần hướng dẫn dành cho sinh viên nước ngoài, và liên lạc trực tiếp với người tư vấn sinh viên nước ngoài của trường. Những lựa chọn phổ biến, theo mức độ từ tốn kém nhất trở xuống, là khách sạn, motel, những nhà nghỉ có giá thuê hàng tuần, nhà trọ của các hội thanh niên tôn giáo, và các khu nhà quốc tế của trường hoặc có hợp đồng với trường.

SỐNG NỘI TRÚ

Hầu hết các trường đều có khu ký túc xá dành cho sinh viên, gọi là dorms. Những khu này ở trong khuôn viên trường hay gần trường và thông thường chỉ dành cho sinh viên chưa lập gia đình. Lợi ích của việc sống trong dorms là sinh viên có cơ hội gặp gỡ và sinh hoạt chung với các sinh viên khác. Các ký túc xá thường có phòng sinh hoạt chung là nơi sinh viên có thể cùng nhau tụ tập để xem ti vi, chơi games, hay gặp gỡ trò chuyện. Ngoài ra, vì dorms thường ở sát bên trường, sinh viên tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại, đồng thời thuận tiện ở lại thư viện trường làm việc hoặc học khuya. Ở một số trường, dorms còn cung cấp xe buýt nhỏ đi lại từ các khuông viên của trường, tới dorms và các chợ thức ăn phổ biến, theo những giờ cố định hàng ngày. Nhờ hệ thống an ninh của trường, sống trong dorms cũng làm tăng mức an toàn cho bạn trong sinh hoạt hàng ngày.

Điểm bất lợi chủ yếu của dorms là chi phí thường cao hơn sống ngoại trú, và, thông thường dorms dành cho sinh viên cử nhân không cung cấp bếp riêng và nhà tắm riêng trong căn hộ, mà bạn sẽ dùng chung bếp và nhà tắm với các sinh viên trong cùng tầng hoặc khu nhà ở. Ví dụ về chi phí, ở các trường của University of California, tiền thuê trong dorms có thể lên đến $11,500 một năm học 9 tháng, nhưng tiền thuê căn hộ sống ngoại trú chỉ khoảng $7,000-$8,000 một năm học.

Thông thường thì nhu cầu thuê phòng trong dorms rất lớn, nên có được một phòng trong khu này không phải là dễ. Một số trường dành ưu tiên chỗ ở trong dorms cho sinh viên năm thứ nhất.

Nếu muốn sống nội trú, ngay khi bạn nhận được thư nhận học của trường muốn chọn, hãy gửi ngay bản ghi danh xin ở nội trú. Có thể bạn sẽ phải đóng trước một khoản tiền đặt cọc. Nên lưu ý rằng đóng tiền đặt cọc có nghĩa là bạn đã cam kết sẽ sống trong dorms và trả tiền thuê đều đặn cho cả năm học hoặc một học kỳ, tuỳ hợp đồng của trường.

Nhiều phòng trong dorms thường có hai sinh viên trở lên cùng ở. Bạn cùng phòng có thể là một sinh viên cùng giới mà bạn không quen biết. Nếu gặp khó khăn trong việc thu xếp cuộc sống với bạn cùng phòng, bạn có thể liên hệ với người phụ trách về dorms để trình bày tình hình và nhờ giúp đỡ đổi phòng hoặc đổi bạn cùng phòng.

SỐNG NGOẠI TRÚ

Nếu không tìm được chỗ ở trong dorms, hoặc muốn tiết kiệm tiền, bạn có thể tìm một nơi ở ngoại trú. Có mấy lựa chọn khác nhau: thuê một căn hộ riêng, cùng sinh viên khác thuê một căn hộ và chia xẻ tiền thuê, thuê phòng sống chung trong một gia đình ở địa phương, hoặc sống trong các khu chung cư hợp tác – “Co-op Housing.”

Thuê căn hộ

Các căn hộ cho thuê có hai loại: có sẳn trang thiết bị nội thất, giá cao hơn, hoặc chưa trang bị nội thất. Nếu không phải định ở tạm thời một học kỳ hay vài tháng trước khi tìm chỗ thích hợp hơn, bạn nên thuê căn hộ không có trang bị nội thất. Nếu nhu cầu giản dị, bạn có thể trang bị dần dần, với chi phí thấp hơn nhiều so với mức chênh lệch để thuê phòng có trạng bị nội thất. Những nguồn để mua trang bị nội thất giá thấp là trang web đấu giá ebay.com và các tiệm bán hàng Goodwill ở địa phương (Goodwill chuyên bán quần áo và mọi đồ dùng trong nhà, cả cũ lẫn mới, do người dân dư dùng muốn hiến tặng; lợi nhuận cửa hàng Goodwill được dùng cho mục đích từ thiện). Trang bị nội thất của cửa hàng IKEA, có mặt nhiều nơi trên nước Mỹ, cũng có giá rất phải chăng, nhưng đòi hỏi bạn có một số kỹ năng lắp ráp sơ đẳng.

Muốn thuê căn hộ trong các khu căn hộ lớn, bạn thường phải có sẳn số an sinh xã hội và tiểu sử tín dụng, điều mà sinh viên nước ngoài lần đầu tiên đến Mỹ không thể có, ít nhất là đến năm học thứ hai. Tuy nhiên, trang web hướng dẫn của trường thường có một danh sách các khu căn hộ có giàn xếp đặc biệt để cho sinh viên nước ngoài thuê, thường với giá cao hơn thị trường một chút. Bạn cũng có thể theo dõi các quảng cáo tìm bạn cùng phòng dán trong trường hoặc đăng trên trạng mạng hướng dẫn về housing của trường để đến ở chung với một sinh viên Mỹ đã đứng tên thuê căn hộ.

Sống cùng một gia đình ở địa phương

Một lựa chọn khác là sống chung với một gia đình ở địa phương, trả tiền thuê cho họ. Cách này thường là cách tiết kiệm nhất, vì tiền thuê rất thấp. Sống với một gia đình ở địa phương là một cách hữu hiệu để hoà nhập vào đời sống văn hoá ở nơi học, mặc dù bạn sẽ phải đổi lại một số tự do trong sinh hoạt hàng ngày.

Co-op housing

Các co-ops là một lựa chọn giá thấp khác. Co-op là một căn nhà lớn trong đó một nhóm sinh viên sống cùng nhau, cùng chia sẻ các chi phí và công việc nhà. Các sinh viên lần lượt thay phiên nấu ăn và dọn dẹp vệ sinh trong nhà. Nhờ sự góp tay của sinh viên trong việc nấu ăn, quản trị và chăm sóc nhà co-op mà sống trong co-op có giá thuê thật thấp. Giá thuê co-op bao gồm cả tiền ăn và chi phí điện, gas, nước.

Năm thứ hai trở đi sẽ dễ dàng hơn

Từ năm thứ hai trở đi, sau khi bạn đã có một số bạn bè “hợp rơ,” các bạn cũng có thể cùng nhau thuê một căn hộ 2, 3 phòng ngủ hoặc một căn nhà để cùng sống chung và chia xẻ tiền thuê nhà. Cách này vừa bảo đảm tự do riêng tư, vừa tiết kiệm chi phí lại vừa giúp phát triển một tình bạn lâu dài trong một nhóm “hợp rơ.” Ngoài ra, nếu bạn biết cách xây dựng tiểu sử tín dụng, từ năm thứ hai bạn cũng có nhiều lựa chọn về nhà thuê hơn. Về tiểu sử tín dụng, xem bài: 'Credit score là gì? Là Tiền!'.

Tìm nhà cho thuê

Để tìm nơi ở ngoại trú, trước tiên nên tham khảo trang web về housing của trường. Trang web này thường cung cấp một danh mục những nơi muốn cho sinh viên thuê nhà, cũng như những sinh viên đang muốn tìm bạn cùng phòng. Bạn cũng có thể đăng tải rao vặt tìm bạn cùng phòng trên trang web này. Bạn có thể mở rộng diện tìm kiếm ra mục rao vặt của các tờ báo địa phương. Nhiều tờ báo đã có trang web, giúp bạn ngồi tại trường tìm kiếm thay vì phải đi mua báo.

Việc chọn chỗ ở đi liền với quyết định về việc đi lại. Nếu bạn học ở các thành phố lớn có hệ thống xe điện ngầm tốt, bạn có thể chọn lựa đi lại hoàn toàn bằng xe điện ngầm, nhưng phải sống trong dorms hoặc ở các khu căn hộ nằm trên các tuyến xe điện ngầm. Đổi lại, nếu học ở các thành phố khác, bạn cần mua xe hơi hoặc sống tương đối gần trường để đi lại bằng xe buýt. Đi xe buýt mất nhiều thời gian hơn đi xe điện ngầm, nên không tiện nếu nhà ở quá xa trường. Nếu ở xa trường, bạn phải dự tính việc mua xe hơi trong kế hoạch tài chính. Một chiếc xe cũ còn dùng tốt có giá khoảng $4,000 đến $8,000. Tiền xăng mỗi tháng khoảng $100 đến $200 tuỳ mức độ đi lại. Nếu không định mua xe, hãy chọn một chỗ ở gần cả chợ thức ăn và trường của bạn.

Nếu thuê căn hộ bên ngoài, bạn có thể sẽ phải trả các chi phí điện, điện thoại, gas cho lò sưởi, thêm vào tiền thuê nhà, mỗi tháng khoảng $70 đến $150.

Hợp đồng thuê

Khi quyết định thuê một căn hộ, bạn phải ký hợp đồng thuê, thường gọi là “lease” hoặc “rental agreement.” Hợp đồngthường đòi hỏi bạn phải tiếp tục thuê trong một thời gian xác định, từ một học kỳ đến một năm học, tuỳ chính sách của bên cho thuê. Không nên thuê nếu bạn không dự định ở đến hết khoảng thời gian ghi trong hợp đồng, vì bạn có thể phải chịu tiền phạt hoặc tiền thuê cho cả thời hạn hợp đồng nếu dọn đi trước hạn. Trước khi dọn vào, bạn có thể được yêu cầu đóng tiền đặt cọc và tiền ứng trước một tháng thuê nhà.

Trước khi ký hợp đồng thuê, hãy chắc rằng bạn hiểu và nắm rõ về hợp đồng đó. Bạn không cần phải ký ngay. Nếu bạn có nghi ngờ gì, hãy liên hệ với văn phòng chuyên môn tại trường của bạn để nhờ tư vấn.

Khi dọn vào nhà, hãy kiểm tra mọi thứ cẩn thận: vòi nước, toilet, máy lạnh, ổ khoá? Có chỗ nào rỉ nước không? Tường có chỗ bể, nứt không? Mọi thứ sạch sẽ không? Khi bạn dọn vào, chủ cho thuê thường đưa cho bạn một cái mẫu để bạn đánh dấu vào đó những chỗ cần kiểm tra trong nhà. Bạn hãy kiểm tra và đánh dấu chỗ nào hư hại. Nếu cần sửa chữa, yêu cầu sữa chữa, nếu không cần hoặc không thể, bạn cần giao mẫu này cho chủ nhà, và lưu một bản, để làm bằng chứng việc hư hỏng đã xảy ra trước khi bạn dọn vào. Khi hết hợp đồng và bạn dọn đi, chủ nhà có thể trừ tiền đặt cọc của bạn về các hư hại mà họ cho là do bạn gây ra.

Hãy giữ trong người tên và số điện thoại của người quản lý khu nhà cho thuê. Bạn sẽ có nhiều dịp cần gọi họ trong thời gian ở đó, khi xảy ra bất kỳ trục trặc nào trong căn nhà bạn thuê.

Những nguồn thông tin hữu ích giúp tìm nhà cho thuê

www.apartments.com rao vặt cho thuê nhà khắp Hoa Kỳ
http://www.easyroommate.com tìm bạn cùng phòng khắp Hoa Kỳ
www.housing101.com rao vặt cho thuê nhà khắp Hoa Kỳ
www.studentrent.com rao vặt cho thuê nhà dành cho sinh viên khắp Hoa Kỳ
www.internhousing.com rao vặt cho thuê nhà ngắn hạn khắp Hoa Kỳ
www.sublet.com rao vặt cho thuê nhà ở nhiều vùng khắp Hoa Kỳ


Những Bài Liên Quan:

* Tìm Hiểu Luật Di Trú: Du học (Friday, December 28, 2007 2:31:43 PM)
Du học sinh Hoa Kỳ được chia ra làm 3 diện: Diện thứ nhất là diện M-1, tức là du học sinh về Thực Hành. Diện thứ hai là diện J-1, tức là du học sinh dưới chương trình trao đổi của hai nước. Diện thứ ba thông dụng nhất là diện F-1, tức là du học sinh về Lý Luận.
* Du học: qua ải di trú visa F-1 (Tuesday, January 08, 2008 11:41:34 AM)
Visa F-1 là loại visa phổ biến nhất cấp cho sinh viên vào Mỹ du học. Điều kiện đầu tiên để bạn bắt đầu thủ tục xin visa là phải được một trường ở Mỹ nhận học. Tuy nhiên, được nhận học không phải đương nhiên sẽ được cấp visa. Bài viết này giới thiệu thủ tục xin visa F-1 và những điều sinh viên nên biết để tăng cơ hội được chấp thuận cấp visa.
* Du học sinh muốn làm việc trong thời gian ở Mỹ (Wednesday, January 23, 2008 11:53:30 AM)
Luật di trú hạn chế sinh viên du học ở Mỹ làm việc. Tuy nhiên, sinh viên vẫn có thể làm việc ở một mức độ nào đó, sau khi đã hoàn tất một số thủ tục di trú nhất định. Bài này giới thiệu những trường hợp được làm việc và thủ tục liên quan cho du học sinh theo visa F-1. Có 6 trường hợp sinh viên được làm việc trong khi đang học, hoặc một thời gian có hạn định sau khi học xong: 1. Làm việc trong phạm vi trường; 2. Làm việc ngoài phạm vi trường: khó khăn kinh tế nghiêm trọng; 3. Thực tập tự nguyện; 4. Thực tập theo giáo trình; 5. Làm việc cho một Tổ chức Quốc tế được công nhận; 6. Chuyển sang visa H-1 B.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=73457&z=150

Tuesday, January 8, 2008

Vất vả khi du học vì không lượng sức mình

Vất vả khi du học vì không lượng sức mình

Sức học trung bình, tiếng Anh còn kém nhưng tôi đã dại dột đăng ký học 7 môn. Vào lớp tôi không nghe kịp, không hiểu kịp giáo sư nói gì nên ngoài giờ phải kiếm sách đọc lại.
> Rối loạn tâm thần vì xuất ngoại

Người gửi: Ngô Mãn Đinh

Khi mới ra nước ngoài tôi cũng ngỡ ngàng lắm. Áp lực lớn nhất mà tôi phải chịu là làm sao tốt nghiệp cho thật nhanh để đỡ tốn tiền ăn học, và mau đi làm.

Tôi là một người có sức học trung bình. Anh văn còn kém, thế mà tôi dại dột đi đăng ký học 7 môn (ngành của tôi trung bình người ta học 5 môn). Vào lớp tôi không nghe kịp, không hiểu kịp giáo sư nói gì nên ngoài giờ phải kiếm sách đọc lại bài vừa được giảng trong lớp.

Không đủ thì giờ làm bài, học bài, ăn uống nghỉ ngơi, cộng thêm nỗi buồn và cô đơn, tôi kiệt sức nhanh chóng về cả thể xác lẫn tâm thần. Cuối cùng khoá học đó tôi cũng đâu có xong 7 môn, may mắn lắm mới đậu được 3 môn. Giá như tôi nghe theo lời khuyên dành thêm 1 năm nữa để học thêm Anh văn, và đăng ký học từ từ theo trình độ của mình. Nếu như thế chắc chắn bây giờ tôi sẽ được đứng vững hơn, và có nhiều kỷ niệm đẹp hơn về cuộc đời sinh viên của mình.

Đã hơn 5 năm kể từ khi ra trường mà tôi vẫn cứ nằm mơ thấy mình bị thi rớt, không nộp đủ bài nên không được thi, không được tốt nghiệp...

Sau những năm tháng "phong ba" đời sinh viên, tôi nghiệm ra một điều rằng, trường đại học không chỉ là nơi để hấp thu kiến thức, mà còn là nơi ghi nhận tất cả những cố gắng (và thiếu cố gắng) trong suốt thuở hàn vi của bạn. Chỉ cần rớt một môn, hay ít điểm một môn cũng có thể ảnh hưởng lớn đến ngành nghề và sự nghiệp lâu dài của bạn.

Đi học ở nước ngoài rất tốn kém, và không dễ chút nào. Gia đình khá giả chưa chắc bảo đảm được rằng bạn sẽ học hành thoải mái. Không phải có tiền cứ học riết rồi cũng đậu, vì rớt hai lần là trường không cho học nữa. Mà bị một trường đuổi rồi thì rất khó xin vào trường khác.

Thành công trong con đường học vấn phụ thuộc vào rất nhiều lý do. Nếu bạn thật sự ham thích và có khả năng thì bạn là người may mắn, và nên nắm lấy cơ hội ngay. Nhưng nếu bạn còn lưỡng lự thì nên dành thời gian chuẩn bị thêm.
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Ban-doc-viet/Doi-song/2008/01/3B9FE17F/

Wednesday, December 5, 2007

Khá giả cũng có thể xin trợ cấp chi phí đại học

Khá giả cũng có thể xin trợ cấp chi phí đại học
Wednesday, November 28, 2007

Phạm Khoa


Đạo luật Higher Education Reconciliation Act (HERA 2005) được thông qua năm 2006 đã tạo ra một thay đổi khá quan trọng về việc gia đình được hưởng trợ cấp chi phí học đại học. Tuy nhiên, trong vài tháng qua, gần như chỉ những gia đình giàu có tận dụng lợi ích mà đạo luật này mang lại, nhờ sự trợ giúp của đội ngũ tư vấn về thuế và kế toán.

Theo HERA 2005, khi xem khả năng tài chính để xét điều kiện cho thụ hưởng các trợ cấp về chi phí học đại học, những gia đình có cơ sở kinh doanh sử dụng không quá 100 nhân công sẽ không phải gộp tài sản của cơ sở kinh doanh vào tổng tài sản gia đình. HERA 2005 chỉ đề cập đến tài sản, còn thu nhập xuất phát từ cơ sở kinh doanh vẫn phải tính trong thu nhập gia đình.

Như các bậc cha mẹ đều biết, về các khoản trợ cấp chi phí học đại học của liên bang (bao gồm tài trợ bằng tiền và các khoản cho vay có bảo trợ lãi suất), việc có trợ cấp hay không cũng như trợ cấp ở mức nào phụ thuộc vào khả năng tài chính của gia đình. Hai yếu tố xác định khả năng tài chính của gia đình là thu nhập và tài sản.

Khi HERA 2005 có hiệu lực, tài sản cơ sở kinh doanh của gia đình có quy mô như đã kể ở trên sẽ được loại ra khỏi tổng tài sản gia đình khi tính khả năng tài chính, nghĩa là sẽ có nhiều sinh viên đủ điều kiện hưởng trợ cấp hơn so với trước đây.

Thí dụ, gia đình sinh viên A có tài sản trị giá $100,000 và đang sở hữu một cơ sở kinh doanh trị giá $800,000. Theo HERA 2005, khi xét trợ cấp, chỉ có phần $100,000 bị tính là tài sản gia đình, trong khi trước đây, tài sản gia đình trường hợp này bị xác định là $900,000. Đây là sự cách biệt rất lớn về cơ sở xác định khả năng tài chính và điều kiện hưởng trợ cấp. Theo Phòng Thống kê Hoa Kỳ, hiện có 98% trong số 5.8 triệu doanh nghiệp ở Hoa Kỳ sử dụng dưới 100 nhân công.

Lợi ích do HERA 2005 mang lại có thể sẽ càng lớn nếu sinh viên ghi danh học ở những trường bảo trợ toàn bộ chi phí như: Standford University, Chapman University, Duke University, Boston College… Ở những trường này, số tiền tài trợ thường được tính như sau: “Nhu cầu tài chính” của sinh viên được tính bằng tổng chi phí dự kiến cho năm học trừ đi “phần (phải) tự trang trải” của cha mẹ và sinh viên. “Phần tự trang trải” được tính theo công thức của liên bang, căn cứ vào tài sản và thu nhập. Trường qui định mức chi phí cố định trong phần “nhu cầu tài chính”, đó là mức mà sinh viên phải tự lo bằng cách vay và làm thêm. Thí dụ, ở Standford University mức này là $4,000. Sau khi trừ đi $4,000 này và các khoản trợ cấp của liên bang và tiểu bang mà sinh viên được nhận, trường sẽ trợ cấp toàn bộ phần còn lại. Nếu trường tính “phần tự trang trải” theo HERA 2005, số tiền bảo trợ mà sinh viên được hưởng ở các trường tư sẽ tăng lên đáng kể.

Để con cái được thụ hưởng lợi ích của HERA 2005, các cơ sở kinh doanh phải có dưới 100 nhân công làm việc toàn thời gian. Nếu có nhân công làm việc bán thời gian thì cứ 2 người làm bán thời gian được tính là một người làm toàn thời gian. Đồng thời cơ sở kinh doanh đó phải được gia đình sinh viên xin trợ cấp nắm hơn 50% quyền quyết định.

Một điều hết sức thuận lợi nữa là nếu gia đình sinh viên đang sở hữu hai cơ sở kinh doanh khác nhau và mỗi cơ sở kinh doanh đều sử dụng dưới 100 nhân công, giá trị của của cả 2 cơ sở kinh doanh này vẫn không bị đưa vào tổng tài sản gia đình.

Nói cách khác, nhờ HERA 2005, nhiều gia đình giàu có, với sự hỗ trợ của các chuyên viên tư vấn về thuế và kế toán vẫn hội đủ điều kiện để xin cho con được hưởng mọi khoản trợ cấp về chi phí đại học. Nguyên tắc chính của việc lập những kế hoạch này là lưu giữ tài sản gia đình dưới dạng tài sản doanh nghiệp càng nhiều càng tốt, đồng thời tách hoạt động kinh doanh ra thành những cơ sở kinh doanh khác nhau, sao cho mỗi cơ sở kinh doanh sử dụng không quá 100 nhân công.

Đã đến lúc, những gia đình có các doanh nghiệp thực sự nhỏ và thực sự cần đến trợ cấp của liên bang lưu ý để tận dụng HERA 2005. Đây đó đã có một số chuyên viên nhận xét rằng HERA 2005 có một “lỗ hổng”: nhà làm luật không hỗ trợ cho người nghèo mà là cho người giàu. Do vậy, hãy cố gắng tận dụng điều đó trước khi các nhà làm luật điều chỉnh HERA 2005.
Những Bài Liên Quan:

* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 1: Tài trợ cho sinh viên Mỹ) (Thursday, August 16, 2007 10:59:23 AM)
Một trong những cách để tiết kiệm chi phí là, thay vì đi thẳng vào đại học, bạn có thể theo học một trường đại học cộng đồng để lấy bằng cao đẳng hai năm trước, và sau đó chuyển sang đại học học tiếp hai năm để lấy bằng cử nhân.
* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 2: Các trường cam kết bảo trợ học phí) (Thursday, August 16, 2007 11:18:04 AM)
Danh sách các trường cam kết bảo trợ toàn bộ chi phí học cho sinh viên. Danh sách do US NEWS công bố.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=69927&z=150

Tuesday, August 28, 2007

Học bổng và nguồn tài trợ (Kỳ 6: Học bổng cho sinh viên nước ngoài)

Học bổng và nguồn tài trợ (Kỳ 6: Học bổng cho sinh viên nước ngoài)
Monday, August 27, 2007





Pham Khoa (Tổng hợp)

Phần lớn học bổng chỉ dành cho công dân Mỹ, hoặc chí ít là thường trú nhân của Mỹ. Tài trợ cho sinh viên nước ngoài khá hạn chế, nhưng thành tích học tập và làm việc rất hữu ích trong việc giúp bạn tìm nguồn tài trợ. Bạn cũng nên cân nhắc các phương thức "vừa học vừa làm" đề cập trong bài "Tài trợ việc học sau đại học ."

Các phương cách tài trợ

Tài trợ của trường --Bạn nên liên lạc một vị cố vấn giáo dục của trường để hỏi cách tìm hỗ trợ tài chính dành cho sinh viên nước ngoài. Các trường tư thục có nhiều khả năng sẽ cấp tài trợ cho sinh viên nước ngoài hơn là trường công lập. Ngoài ra, các ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên cũng dễ kiếm tài trợ hơn các ngành khác.

Theo các Tòa Lãnh SựHoa Kỳ, tổng số học bổng toàn phần của các trường mỗi năm dành cho các sinh viên nước ngoài là khoảng 1,000, và chỉ có khoảng 100 trường cấp loại học bổng này. Để dành được học bổng toàn phần, bạn phải là một trong những sinh viên hàng đầu ở nước mình, có điểm SAT và TOEFL cao, và có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực khác chẳng hạn như khả năng lãnh đạo hoặc phục vụ cộng đồng. Tỉ lệ ứng viên dành được học bổng là khoảng 1/20.

Một số trường ở Mỹ cam kết hỗ trợ toàn bộ chi phí cho sinh viên. Phần hỗ trợ này được tính sau khi trừ đi phần phải tự trang trải của sinh viên, căn cứ vào thu nhập của gia đình (để hiểu thêm khái niệm "hỗ trợ toàn bộ," xem bài viết "Tài trợ cho sinh viên Mỹ". Về nguyên tắc, nhiều trường cũng hỗ trợ cho sinh viên nước ngoài theo chế độ này, nhưng thực tế sinh viên nước ngoài rất khó cạnh tranh để được nhận vào những trường này.

Vay tiền --Bạn có thể vay một phần tiền chi phí học tập. Cố vấn giáo dục của bạn ở trường có thể cung cấp thông tin về các chương trình cho vay mà bạn đủ điều kiện tham gia. Thường thì bạn phải được một công dân Mỹ cùng ký tên bảo lãnh khoản vay.

Đi làm -- Luật hiện hành chỉ cho phép sinh viên nước ngoài được làm việc bán thời gian - không quá 20 giờ một tuần - và trong năm học đầu tiên chỉ được làm việc trong trường. Các công việc ở trường có thể bao gồm làm việc tại các cơ sở của trường như hiệu sách, thư viện, câu lạc bộ sức khỏe, hoặc trong các phòng hành chính của trường. Bạn cũng nên cân nhắc các chương trình trợ tá, trợ giảng và chương trình Cooperative Education. Các chương trình này được đề cập chi tiết trong bài "Tài trợ việc học sau đại học."

Học bổng thể thao --Học bổng này của các trường nhằm tuyển mộ tài năng thể thao. Học bổng thể thao thường không phân biệt bạn có là công dân Mỹ không, nên cũng là một khả năng đáng chú ý của sinh viên nước ngoài.

Các học bổng quốc tế -- Một số các tổ chức chính phủ và phi chính phủ có các học bổng dành riêng cho người nước ngoài. Các nguồn này hạn chế và có tính cạnh tranh cao nhưng rất hấp dẫn. Phần dưới đây thảo luận chi tiết hơn về một số học bổng lớn.

Học bổng

Dưới đây là một số học bổng lớn, có mỗi năm, hầu hết là TOÀN PHẦN, cho sinh viên nước ngoài. Các học bổng này tài trợ việc đào tạo sau đại học cho những cá nhân thể hiện được thành tích xuất sắc trong hoạt động nghề nghiệp hay xã hội. Hầu hết đòi hỏi ứng viên đã có một thời gian làm việc chuyên môn ít nhất là 3 năm, và ưu tiên cho các thành phần "thiểu số" như phụ nữ và sắc dân thiểu số. Hầu hết ưu tiên cho các ngành liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội hoặc đến Hoa kỳ học, như Văn học Mỹ, các ngành Hoa Kỳ học, Quản trị kinh doanh, các ngành về Truyền thông, Quan hệ công cộng, Báo chí, Kinh tế học, Phát triển kinh tế, Sức khoẻ, Môi trường, Quản lý giáo dục, Nghệ thuật, Công nghệ tin học, Quan hệ quốc tế, Luật, Quản lý thư viện, Hành chính công, Chính sách công, Công việc xã hội, Giảng dạy Anh ngữ, Qui hoạch đô thị và Phụ nữ học.

Chương trình du học sinh Fulbright – chương trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa sinh viên từ các nước đến Mỹ học cao học hoặc tiến sĩ. Mỗi năm Fulbright cấp học bổng cho khoảng 1,800 sinh viên từ nhiều nước khác nhau. Thông tin về học bổng này thường được phổ biến trên trang web của Lãnh Sự Quán Mỹ nước sở tại.

Chương trình học giả Fulbright – chương trình của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ tài trợ cho học giả nước ngoài đi giảng dạy hoặc nghiên cứu tại các viên nghiên cứu hoặc trường đại học ở Mỹ, trong thời gian từ ba đến chín tháng. Ứng viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ ngành tương ứng. Thông tin về học bổng này cũng được công bố trên trang web của Lãnh Sự Quán Mỹ.

Chương trình học bổng Hubert Humphrey -- Ðây là chương trình học tập, nghiên cứu trong một năm, không cấp bằng, dành cho những viên chức trẻ có triển vọng thăng tiến trong nghề và có nguyện vọng phục vụ công cộng. Người trúng tuyển sẽ theo học một năm ở Hoa Kỳ, trong đó có thực tập chuyên môn, đi thực tế, tham gia hội nghị và hội thảo về lĩnh vực liên quan. Thông tin về học bổng này cũng thường được công bố trên trang web của Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở nước sở tại.

Chương trình Ford Foundation International Fellowships (IFP) – IFP là chương trình của International Fellowships Fund, một tổ chức có trụ sở ở New York City. Chương trình nhằm đem lại cơ hội học cao học cho các cá nhân xuất sắc để họ có thể áp dụng cơ hội học này giúp đỡ sự phát triển kinh tế và cộng đồng xứ sở họ. Học bổng này đã hoạt động ở 22 quốc gia, và cấp khoảng 20 đến 30 học bổng hàng năm ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, học bổng này do Center for Educational Exchange with Viet Nam (CEEVN) quản lý. Thông tin cung cấp trên trang web của CEEVN: http://www.acls.org/ceevn/2007IFPVn.htm.

Chương trình World Fellows của Yale University -- Mục tiêu của chương trình này là "phát triển một mạng lưới quốc tế các nhà lãnh đạo tiềm năng." Chương trình này của Yale mỗi năm cấp học bổng toàn phần cho 18 người từ khắp nơi trên thế giới đến Yale dự một học kỳ học chuyên biệt về quản lý và lãnh đạo không cấp bằng. Thông tin về chương trình này có trên trang web của Yale University: http://www.yale.edu/worldfellows/html/program.html.

Chương trình Nhật Bản / World Bank – Chương trình này do Chính Phủ Nhật Bản tài trợ, Ngân Hàng Thế Giới quản lý, và ứng viên phải là công dân của một nước thành viên của Ngân Hàng Thế Giới. Tên viết tắt của chương trình là JJ/WBGSP. Ứng viên phải ở trong độ tuổi 25 đến 45. Học bổng cấp cho việc học cao học trong các ngành học liên quan trực tiếp đến phát triển; chương trình này không tài trợ học MBA, tiến sĩ (PhD) hay tiến sĩ luật (JD). Chương trình này đã có 20 năm, và đến nay đã cấp khoảng 2,500 học bổng, chọn lựa từ khoảng 53,000 ứng viên. Thông tin được cung cấp trên trang web của Ngân Hàng Thế Giới: http://go.worldbank.org/DEYLG799V0.

Chương trình học bổng quốc tế của hội American Association of University Women -- Chương trình này nhằm hỗ trợ cho phụ nữ, cấp học bổng $18,000 cho phụ nữ học cao học và $20,000 cho phụ nữ học tiến sĩ ở Mỹ. Năm học 2006-2007 vừa qua, chương trình đã cấp 51 học bổng, chọn lựa trong số hơn 700 ứng viên từ hơn 100 quốc gia. Thông tin được cung cấp trên trang web của Hội: http://www.aauw.org/fga/fellowships_grants/international.cfm.

Chương trình học bổng riêng cho sinh viên Việt Nam: VEF -- Quỹ Giáo Dục Việt Nam (Vietnam Education Foundation, VEF) là một tổ chức chính phủ độc lập do Quốc Hội Hoa Kỳ thành lập và chính phủ Hoa Kỳ tài trợ hoạt động. Mục tiêu là trao đổi giáo dục về khoa học và công nghệ với Việt Nam. Học bổng cấp cho sinh viên Việt Nam theo học cao học hoặc tiến sĩ ở Mỹ trong các ngành nghề về khoa học tự nhiên hoặc kỹ thuật công nghệ. Sau vài năm hoạt động, học bổng đã đưa khoảng 200 sinh viên sang Mỹ du học. Thông tin cung cấp trên trang web cũa VEF: http://home.vef.gov/


Những Bài Liên Quan:

* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 1: Tài trợ cho sinh viên Mỹ) (Thursday, August 16, 2007 10:59:23 AM)
Một trong những cách để tiết kiệm chi phí là, thay vì đi thẳng vào đại học, bạn có thể theo học một trường đại học cộng đồng để lấy bằng cao đẳng hai năm trước, và sau đó chuyển sang đại học học tiếp hai năm để lấy bằng cử nhân.
* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 2: Các trường cam kết bảo trợ học phí) (Thursday, August 16, 2007 11:18:04 AM)
Danh sách các trường cam kết bảo trợ toàn bộ chi phí học cho sinh viên. Danh sách do US NEWS công bố.
* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 3: Cách tìm học bổng) (Monday, August 20, 2007 3:46:48 PM)
Học bổng không hề làm giảm trợ cấp từ phía trường, mà ngược lại sẽ giảm bớt phần phải tự trang trải của sinh viên. Nhiều học bổng còn là một đóng góp quan trọng vào giá trị resume của bạn vì nó thể hiện tài năng.
* Học bổng và nguồn tài trợ (kỳ 4: Cách xin một học bổng) (Monday, August 20, 2007 4:05:57 PM)
Lập hồ sơ xin học bổng với tâm niệm rằng những người xét học bổng sẽ phải đọc hàng ngàn hay chục ngàn hồ sơ như vậy, và có lẽ chỉ bỏ ra vài phút để lướt qua mỗi hồ sơ. Phải làm cho resume, tiểu luận và thư giới thiệu của bạn "sáng trưng" và "đáng nhớ" bằng những thông tin và trình bày đặc sắc, có tính sáng tạo.
* Học bổng và nguồn tài trợ (Kỳ 5: Tài trợ việc học sau đại học) (Thursday, August 23, 2007 2:22:24 PM)
Có ít nguồn tài trợ cho việc học cao học hơn là đại học. Bạn nên "mở rộng" tầm tìm kiếm. Bí quyết chung là đóng góp hữu ích – làm những việc các tổ chức cấp tài trợ cần để đổi lấy tiền tài trợ...
*

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=64869&z=150