Sinh viên Việt du học tự tử tại Westminster
Tuesday, June 29, 2010 Bookmark and Share
Linh Nguyễn - Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Một sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ treo cổ tự tử hôm 21 tháng 6, tại căn nhà anh thuê, trong thành phố Westminster.
Theo cơ quan khám nghiệm tử thi Quận Cam (OC Sheriff Coroner) xác nhận với Người Việt, nạn nhân tên là Nguyễn Mạnh Cường, 19 tuổi, sinh viên đang theo học tại Ðại Học Golden West Community College, treo cổ tự tử chết tại một căn nhà thuộc thành phố Westminster trong tuần qua.
Căn nhà ở Westminster, nơi người ta tìm thấy Nguyễn Mạnh Cường, 19 tuổi đã treo cổ tự tử,
cảnh sát Westminster phát giác vào ngày 22 tháng 6, 2010. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
“Thanh niên này tự tử, bằng cách treo cổ, lúc 7 giờ sáng, ngày 21 tháng 6, 2010 tại căn nhà trên đường Stoneridge, Westminster. Nạn nhân ở với một người dì.” Ông Bruce Lyle của cơ quan này cho biết như vậy.
Mặt khác, sau khi tìm hiểu từ Sở Cảnh Sát Westminster, Nghị Viên Tyler Diệp Miên Trường thông báo cho Người Việt, rằng: “Cảnh sát Westminster phát giác vụ này vào ngày 22 tháng 6, nhưng kết quả khám nghiệm cho biết nạn nhân đã chết hơn một ngày trước đó.”
“Nguyễn Mạnh Cường dùng khăn lông quấn bên ngoài một sợi dây điện và tự treo cổ, trong nhà xe. Cảnh sát tìm thấy trong người nạn nhân có một lá thư tuyệt mệnh và một vé lô tô. Nội dung lá thư cho thấy, Cường muốn để lại di sản cho bà mẹ.”
Cảnh sát cũng thông báo đến Nghị Viên Tyler Diệp rằng: “Ðây là một sinh viên Việt du học, có ít bạn, không thích giao du và không có dấu hiệu uống rượu hay dùng ma túy trong quá khứ.”
Ðược hỏi về kinh nghiệm đối với sinh viên, Giáo Sư Phạm Thị Huê, khoa trưởng phụ trách về cố vấn (Counseling) của Ðại Học OCC, nói với Người Việt: “Tôi tiếp xúc với nhiều du học sinh từ Việt Nam sang học tại Ðại Học Orange Coast (OCC). Ða số chỉ cần cố vấn về chương trình học. Ít thấy các em than về mặt tinh thần.”
Giáo Sư Huê nói thêm: “Trước khi cho con em đi du học tại OCC, phụ huynh ở Việt Nam đều biết rằng họ phải đủ sức chi trả khoảng $18,000 một năm. Ða số sinh viên trong trường hợp này không tỏ ra gặp khó khăn về tài chánh.”
Qua điện thoại, bà Janelle Lieton, giám đốc Trung Tâm Sinh Viên Quốc Tế (International Student Center) của Ðại Học Golden West tỏ ra dè dặt khi được hỏi về trường hợp sinh viên Nguyễn Mạnh Cường. Bà nói rằng: “Vì thông tin giới hạn về sinh viên này, chúng tôi không thể xác nhận hoặc từ chối. Tuy nhiên, chúng tôi rất buồn về sự thể đã xảy ra. Hy vọng cảnh sát sẽ điều tra và cho biết nhiều thông tin hơn.”
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=115249&z=1
Tuesday, June 29, 2010
Tuesday, May 18, 2010
Du học sinh Việt Nam và tiền người dân Mỹ
Du học sinh Việt Nam và tiền người dân Mỹ
Saturday, May 15, 2010 Bookmark and Share
Em cũng là một du học sinh nên thấy báo Người Việt đăng bài về những người cùng hoàn cảnh với mình em cảm thấy vô cùng hứng thú. (“Sinh viên Việt du học: Những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại Mỹ,” báo Người Việt ngày 13 tháng 5)
Từ lúc qua Mỹ học đến nay, em có rất nhiều bức xúc về luật lệ của Mỹ đối với du học sinh, chủ yếu là xoay quanh vấn đề tiền học. Theo luật của Mỹ, du học sinh phải trả “non-resident” tuition fee, tức là 200 USD cho 1 unit, gần gấp 10 lần tiền học của 1 học sinh bình thường chưa kể các chi phí khác. Lý do bên phía Mỹ đưa ra để “chống chế” cho hành vi “bóc lột” secretly này là “du học sinh không có trả thuế cho nhà nước.”
Nhiều lần em suy nghĩ thì cảm thấy điều này thật quá vô lý. Mỗi lần em mua bất cứ thứ gì dù lớn hay nhỏ, em đều phải trả thuế. Từ 1 cái bánh Hamburger cho đến 1 cốc mỳ ly, tất cả đều có dòng chữ tax ở phía dưới cái receipts. Vì lý tưởng chúng em bỏ lại gia đình, bạn bè và biết bao nhiêu niềm vui để một mình bôn ba trên đất Mỹ. America không thấy được điều này mà hỗ trợ, đã vậy còn tạo thêm nhiều áp lực trên vai chúng em với biết bao nhiêu là luật lệ bắt buộc như health insurance, full-time study và học phí cao ngun ngút.
Aron (13/5/2010)
Tòa soạn trả lời: Xin cám ơn quý độc giả Aron đã góp ý và nêu thắc mắc. Bức thư của Aron nêu lên nhiều điều, xin được giải thích từng điều trong giới hạn kiến thức của mình như sau:
* Về điều kiện bắt buộc học full-time: Nếu du học sinh Việt Nam nhiều khi xem việc đi học là cách để đến Mỹ thì nước Mỹ lại nghĩ ngược lại. Mục tiêu của visa du học sinh (J-1 và F-1) là để qua Mỹ học rồi về lại nước. Vì vậy, visa du học đòi hỏi người sinh viên phải học, chứ không phải làm chuyện khác.
* Về tiền học phí: Tiền học phí thấp cho “in-state resident” của các đại học công lập là học phí dành riêng cho resident của tiểu bang đó. Không chỉ du học sinh, mà sinh viên Mỹ chính gốc mà qua tiểu bang khác học, cũng phải đóng tiền “non-resident” hay thường gọi là tiền học “out-of-state.” Lý do không chỉ vì người sinh viên đó có đóng thuế hay không. Một sinh viên “in-state” mới vào đại học thì chỉ mới 17-18 tuổi, tiền đóng thuế đâu đã bao nhiêu!
Không. Dân “in-state” được đóng tiền ít, theo lý thuyết, là vì không phải chỉ riêng gì cá nhân họ đã đóng thuế, mà cả gia đình họ đã đóng thuế từ hồi nào tới giờ. Không chỉ riêng gì phần sales tax như Aron thường xuyên đóng, mà còn đủ các loại thuế: thuế income tax khi phụ huynh đi làm, thuế property tax trên căn nhà mà gia đình các sinh viên đó đang sống, v.v...
Hơn nữa, nếu một người sinh viên là “in-state” của Illinois chẳng hạn, mà lại cũng học đại học ở Illinois nữa, thì rất có thể sau khi tốt nghiệp người sinh viên đó sẽ ở lại Illinois và tiếp tục đóng góp cho Illinois. Còn sinh viên “out-of-state” thì rất có thể họ học xong lại về đóng góp cho tiểu bang nhà, hay nói chung là biến đâu mất.
Vì rất nhiều lý do như vậy, nên tất cả các trường đại học công lập trên nước Mỹ này đều phân biệt giữa người “in-state” và người “out-of-state” - dù là người Mỹ out-of-state, hay là du học sinh.
Ðại học UC Berkeley chẳng hạn, có trên 20% sinh viên là out-of-state, vừa người Mỹ từ tiểu bang khác tới (Berkeley là trường xịn mà!), vừa người du học sinh nước ngoài. Tất cả đều trả học phí cao như nhau.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112995&z=135
Saturday, May 15, 2010 Bookmark and Share
Em cũng là một du học sinh nên thấy báo Người Việt đăng bài về những người cùng hoàn cảnh với mình em cảm thấy vô cùng hứng thú. (“Sinh viên Việt du học: Những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại Mỹ,” báo Người Việt ngày 13 tháng 5)
Từ lúc qua Mỹ học đến nay, em có rất nhiều bức xúc về luật lệ của Mỹ đối với du học sinh, chủ yếu là xoay quanh vấn đề tiền học. Theo luật của Mỹ, du học sinh phải trả “non-resident” tuition fee, tức là 200 USD cho 1 unit, gần gấp 10 lần tiền học của 1 học sinh bình thường chưa kể các chi phí khác. Lý do bên phía Mỹ đưa ra để “chống chế” cho hành vi “bóc lột” secretly này là “du học sinh không có trả thuế cho nhà nước.”
Nhiều lần em suy nghĩ thì cảm thấy điều này thật quá vô lý. Mỗi lần em mua bất cứ thứ gì dù lớn hay nhỏ, em đều phải trả thuế. Từ 1 cái bánh Hamburger cho đến 1 cốc mỳ ly, tất cả đều có dòng chữ tax ở phía dưới cái receipts. Vì lý tưởng chúng em bỏ lại gia đình, bạn bè và biết bao nhiêu niềm vui để một mình bôn ba trên đất Mỹ. America không thấy được điều này mà hỗ trợ, đã vậy còn tạo thêm nhiều áp lực trên vai chúng em với biết bao nhiêu là luật lệ bắt buộc như health insurance, full-time study và học phí cao ngun ngút.
Aron (13/5/2010)
Tòa soạn trả lời: Xin cám ơn quý độc giả Aron đã góp ý và nêu thắc mắc. Bức thư của Aron nêu lên nhiều điều, xin được giải thích từng điều trong giới hạn kiến thức của mình như sau:
* Về điều kiện bắt buộc học full-time: Nếu du học sinh Việt Nam nhiều khi xem việc đi học là cách để đến Mỹ thì nước Mỹ lại nghĩ ngược lại. Mục tiêu của visa du học sinh (J-1 và F-1) là để qua Mỹ học rồi về lại nước. Vì vậy, visa du học đòi hỏi người sinh viên phải học, chứ không phải làm chuyện khác.
* Về tiền học phí: Tiền học phí thấp cho “in-state resident” của các đại học công lập là học phí dành riêng cho resident của tiểu bang đó. Không chỉ du học sinh, mà sinh viên Mỹ chính gốc mà qua tiểu bang khác học, cũng phải đóng tiền “non-resident” hay thường gọi là tiền học “out-of-state.” Lý do không chỉ vì người sinh viên đó có đóng thuế hay không. Một sinh viên “in-state” mới vào đại học thì chỉ mới 17-18 tuổi, tiền đóng thuế đâu đã bao nhiêu!
Không. Dân “in-state” được đóng tiền ít, theo lý thuyết, là vì không phải chỉ riêng gì cá nhân họ đã đóng thuế, mà cả gia đình họ đã đóng thuế từ hồi nào tới giờ. Không chỉ riêng gì phần sales tax như Aron thường xuyên đóng, mà còn đủ các loại thuế: thuế income tax khi phụ huynh đi làm, thuế property tax trên căn nhà mà gia đình các sinh viên đó đang sống, v.v...
Hơn nữa, nếu một người sinh viên là “in-state” của Illinois chẳng hạn, mà lại cũng học đại học ở Illinois nữa, thì rất có thể sau khi tốt nghiệp người sinh viên đó sẽ ở lại Illinois và tiếp tục đóng góp cho Illinois. Còn sinh viên “out-of-state” thì rất có thể họ học xong lại về đóng góp cho tiểu bang nhà, hay nói chung là biến đâu mất.
Vì rất nhiều lý do như vậy, nên tất cả các trường đại học công lập trên nước Mỹ này đều phân biệt giữa người “in-state” và người “out-of-state” - dù là người Mỹ out-of-state, hay là du học sinh.
Ðại học UC Berkeley chẳng hạn, có trên 20% sinh viên là out-of-state, vừa người Mỹ từ tiểu bang khác tới (Berkeley là trường xịn mà!), vừa người du học sinh nước ngoài. Tất cả đều trả học phí cao như nhau.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112995&z=135
Wednesday, May 12, 2010
Những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại Mỹ
Những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại Mỹ
Wednesday, May 12, 2010 Bookmark and Share
Sinh viên Việt du học Mỹ, 'ngó dzậy mà không phải dzậy'
Kỳ cuối
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Ði du học là để có cơ hội mở rộng hơn ở tương lai,” “Ði du học để có thể kiếm thêm tiền phụ gia đình,” “Ði du học là chấp nhận sự liều lĩnh,” “Ði du học là để có cơ hội trưởng thành, lớn lên.” Ðó là lý do của một số sinh viên Việt Nam đang du học tự túc tại các trường đại học cộng đồng ở Orange County, California.
Với những lý do như vậy, không cần gia đình nào thực sự giàu có hay chỉ có gia đình “con ông cháu cha” mới có thể cho con em đi du học. Họ chấp nhận vay mượn, thậm chí cả bán nhà, để đầu tư vào chuyện học hành với hy vọng có một sự “đổi đời” cho con em họ về sau.
Nhiều du học sinh chỉ được gia đình hỗ trợ cho chi phí sang Mỹ hoặc thêm vài ba tháng đầu, sau đó, tự mỗi em sẽ xoay sở để tìm cách tự lập. Chính vì vậy, có nhiều sự thay đổi đã diễn ra không hề nằm trong dự tính của các du học sinh, kể cả ý định sẽ ở lại Hoa Kỳ sau khi tốt nghiệp.
Những điều không như dự tính
“Lúc còn ở Việt Nam cứ nghĩ qua đây có bác, sẽ ở nhà bác, mình đi làm được bao nhiêu, thiếu bao nhiêu bác sẽ phụ cho tiền đóng tiền học. Thế nhưng hoàn cảnh thực tế đâu cho phép bác giúp em như vậy.” Ngọc Thi kể về những điều không lường trước của mình.
“Bác cho em cái xe chạy đi học đi làm là em mừng lắm rồi. Còn nhà bác là 'housing' nên dù có muốn cũng đâu thể cho em ở được.” Cũng may mắn cho Thi ở chỗ, là sau thời gian chạy tới chạy lui kiếm chỗ ở hoài, thì gia đình mà Thi làm công việc “babysit” đã cho Thi một chỗ ở không lấy tiền. “Cũng nhờ vậy mà em mới có thể đủ tiền trang trải cho chuyện học.”
Khoa Trần, một sinh viên du học, nói rằng: “Nhiều gia đình không thực sự giàu có nhưng cũng ráng cầm cự cho con đi du học, một sự liều lĩnh.”
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Không chỉ phải tự lo cho bản thân nơi đây, mà Thi còn mang nặng tâm trạng phải lo cho gia đình ở Việt Nam.
Tôi hỏi Thi, “Làm sao em có tiền để gửi về cho bố mẹ?”
“Khi đi làm, chỉ để ra đủ tiền đóng tiền học, còn lại dư ra một chút nào em lại nhờ bác chuyển về nhà cho bố mẹ và các em, nhất là vào dịp Tết và đầu năm học.”
“Sao lại phải nhờ bác gửi?” Tôi hỏi và nghe giọng Thi như chực khóc: “Nếu em gửi thì sợ bên nhà nghĩ rằng em có tiền, mà em thì có tiền gì đâu, thực tình là em chẳng có dư đồng nào hết. Nên cứ để bác mang danh bác mà gửi về cho bố mẹ. Có một trăm em gửi một trăm, có năm chục em gửi năm chục, đôi khi có hai chục em cũng gửi.”
“Em có nói cho nhà biết là bên này em kiếm tiền rất khó không?”
“Không hiểu đâu chị ơi. Không hiểu đâu. Bố mẹ và cậu dì cứ nghĩ là em sang đi làm là có tiền liền, có tiền nhiều. Họ cứ nói sao hàng xóm nó đi, tiền nó gửi về hàng ngàn. Mà trời đất ơi, mình đi học, rồi đóng tiền học, tiền tùm lum, mà cứ giải thích nhiều lần cũng không có ai hiểu hết. Khi nhà có khó khăn lại gọi sang cho em, mà thực tình em có tiền đâu. Thành ra cực khổ gì ở đây em cũng chẳng dám than, chẳng dám nói gì hết.”
“Em biết có khó khăn lắm thì mẹ mới gọi đến em, nên hễ có bao nhiêu là em gửi hết. Một chút cũng có thể kham được trong lúc khó khăn.”
Thi giãi bày: “Mỗi lần gọi cho mẹ là mỗi lần mẹ khóc, mẹ than, em lại không có tiền nên từ Tết đến giờ em không dám gọi về nhà. Em chỉ lén hỏi thăm qua bác và gọi lén cho đứa em để biết tình hình ở nhà thôi.”
“Hy vọng vài năm nữa sẽ đỡ hơn.” Thi cười hy vọng.
Sân trường đại học cộng đồng Golden West College, California, nơi có đông đảo sinh viên du học từ Việt Nam sang.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Những hoàn cảnh như Thi không phải là hiếm, nhưng những hoàn cảnh “ngược lại,” cũng không thiếu. Một người gốc Việt làm cho một đại học cộng đồng nói rằng, tại trường của ông, đến 95% du học sinh Việt Nam không thể tốt nghiệp. Các sinh viên này đến học, học không nổi, nhưng nhà giàu nên không thèm quan tâm, đến khi về nước chỉ có mỗi... bằng lái xe.
Có những “diện” học bổng khác để sang Mỹ, là đi theo tiền của nhà nước Việt Nam. Không thiếu những người học giỏi, và cũng không hề thiếu những người học hoài, học miết, mà không qua được các lớp Anh ngữ. Một sinh viên du học kể về trường hợp anh biết tại một trường đại học cộng đồng ở San Diego. Một sinh viên lớn tuổi, đi theo “diện học bổng” của nhà nước Việt Nam. “Phải nói là ông này không thiếu tiền. Ông mướn căn phòng riêng trong một gia đình Mỹ, tiền nhà trả khá cao, lại mướn riêng giáo viên về dạy Anh văn cho mình.”
Trong khi các sinh viên “con nhà nghèo” khác nai lưng ra vừa đi học, vừa đi làm, “ông sinh viên” lớn tuổi đã không qua được các khóa tiếng Anh, và đành về lại Việt Nam.
Trở lại với những sinh viên du học có hoàn cảnh khó khăn. Cô Quỳnh Anh, một sinh viên du học tại quận Cam, nói mỗi tháng ba mẹ cô giúp cho khoảng một phần ba số tiền học. Nhờ đi làm thêm, Quỳnh Anh để dành được tiền mua vé về Việt Nam thăm ba mẹ một lần.
“Ai cũng khen em hết. Mọi người nói em qua đây một mình, tự lập, đi làm và đi học, còn mua được vé về, còn mang tiền cho mẹ nữa.” Quỳnh Anh cười khúc khích.
Tôi hỏi nhỏ: “Em cho mẹ được bao nhiêu?”
Tiếng Quỳnh Anh cười bẽn lẽn: “Dạ có năm trăm à.”
Với Hưng Lê thì những dự tính lúc đầu trước khi du học và thực tế cũng khác hẳn nhau. “Lúc đầu ở nhà tính là sang đây sẽ ở nhà người quen. Nhưng chỉ được một thời gian thì với nhiều lý do, em phải kiếm chỗ ở khác. Thành ra những chi phí dôi ra cho khoảng tiền thuê nhà, gas, điện, nước là không có trong dự tính lúc đầu.”
May mắn là chỉ sau hai tháng bỡ ngỡ, Hưng đã tìm được việc làm thêm, dù là làm “chui,” để có tiền trang trải nhiều khoản chi phí, và không phải xin thêm tiền gia đình.
Khó khăn với nhiều thứ như vậy nhưng Ngọc Thi, Quỳnh Anh, Hưng Lê và Khoa Trần đều cho rằng mình may mắn hơn một số bạn bè du học khác.
Quỳnh Anh chia sẻ: “Em thấy mình may mắn vì vẫn còn được đi học. Có một vài bạn em biết do gia đình không gửi tiền sang, hoặc họ không dự trù được hết cuộc sống ở đây nên cứ phải đóng tiền học ESL, rồi bỏ học đi làm.”
“Một số bạn qua đây không phải vì mục đích chính là học mà là để kiếm tiền nên cứ kiếm trường nào thật dễ để nhận được visa du học, rồi sau đó lại kiếm những trường 'ma' nào đó mà chỉ cần đóng tiền chứ không cần tới lớp, để gia hạn visa. Xong họ đi làm nail, là nhà hàng kiếm tiền và tìm cơ hội ở lại.” Khoa kể câu chuyện một số bạn bè chung quanh.
Học xong đều mong ‘ở lại Mỹ’
Khó khăn và nhiều thử thách đối với những sinh viên du học tự túc không thuộc diện con nhà giàu hay “con ông cháu cha,” thế nhưng những sinh viên mà tôi biết đều không hề có ý định bỏ cuộc sự nghiệp học hành của mình.
“Mùa Thu tới đây em sẽ chuyển lên Ðại Học Fullerton. Em muốn học cho nhanh. Tuổi em đúng ra theo kế hoạch ban đầu đã phải học xong master rồi.” Khoa tự tin nói về hướng sắp tới của mình. “Khi lên đại học, em sẽ phải cần nhiều sự giúp đỡ tài chánh của gia đình, bởi em vừa phải giảm giờ làm lo cho việc học, mà học phí đại học lại quá cao.”
Không lạc quan như Khoa Trần, sau 3 năm học ở Santa Ana College, Ngọc Thi chưa dám chắc bao giờ mình mới có thể chuyển tiếp lên hệ đại học.
Thi nói bằng giọng thật buồn: “Ở college thì em còn lo được chứ 'transfer' thì làm sao em có đủ tiền để đóng tiền học. Ðúng lý ra thì mùa Thu tới đây đã có thể 'transfer' rồi nhưng chưa nghĩ ra cách gì có tiền đi học tiếp nên thôi ráng ở lại college thêm mùa nữa, khi nào có đủ tiền thì vào Cal State chứ cũng không dám mơ vô university như trước đây em từng mơ.”
Có điều dù đi học full-time - điều kiện bắt buộc đối với du học sinh, và đi làm 40 giờ một tuần, “cực lắm, cuối tuần không có thời gian nghĩ nữa, nhưng khi mình đã muốn thì mình cũng sắp xếp thời gian làm được hết, em vẫn sinh hoạt trong ca đoàn, vẫn tham gia Sinh Viên Công Giáo, vẫn 'enjoy' mọi thứ,” giọng Thi lại trong vắt tiếng cười.
Hưng Lê thì dự tính lúc đầu sẽ học tiếp ngành em đang theo học ở Việt Nam là “Bio Technology.” Nhưng “vì thời gian học không phù hợp,” sau một năm du học, Hưng lại có ý định chuyển sang học ngành dược, rồi lại loay hoay với ý định học “nurse.” Tuy nhiên, sau tất cả mọi dự định thì “mùa học tới em sẽ 'transfer' vào ngành 'business.' Ðó là lựa chọn cuối cùng của em.”
Quỳnh Anh thì dự định học y tá. Nhưng “em vừa thấy mình có máu kinh doanh giống ba, vừa cũng thích nói chuyện và giúp đỡ người bệnh nữa. Nên bây giờ em cũng chưa quyết định sẽ học cái gì, vẫn tập trung học những môn chung trước.”
Do nhiều yếu tố, hầu hết các du học sinh đều không theo đúng với những gì mình suy nghĩ và dự tính lúc đầu. Thời gian phải bỏ ra cho việc học để lấy được một tấm bằng nào đó bao giờ cũng lâu hơn kế hoạch ban đầu, bởi nhiều lý do về tài chánh hoặc ngành học không phù hợp. Có điều, sau khi học xong “sẽ ở lại tìm việc làm ở Mỹ” là quyết định của tất cả các du học sinh này.
“Công sức em đổ ra quá nhiều rồi, em muốn lấy lại những gì em đã đánh đổi. Nếu em về Việt Nam, thì có đi làm cả đời em cũng không thể nào lấy lại được những gì em đã bỏ ra,” Ngọc Thi nói dứt khoát. Xa nhà đã ba năm, muốn nhưng chưa có điều kiện về thăm nhà, nên học xong sẽ về Việt Nam thăm gia đình cũng là dự tính của Thi.
“Học xong em sẽ ở lại tìm việc làm, có điều làm gì thì em chưa biết.” Quỳnh Anh cười cho biết.
Hưng Lê ước mơ: “Sau khi tốt nghiệp, em muốn có cơ hội ở lại Mỹ làm việc. Em thích cuộc sống ở đây. Ở đây không cần phải giàu, chỉ cần biết tằn tiện, tiết kiệm vừa phải thì mình cũng như bao người khác, an tâm với cuộc sống.”
Tôi hỏi Khoa: “Tại sao hầu hết du học sinh đều muốn ở lại Mỹ sau khi ra trường vậy?”
Khoa nhìn tôi cười, có lẽ em đang nghĩ tôi có cần không một câu hỏi “ngớ ngẩn” đến vậy.
Khoa nói, “Về tình cảm cá nhân, gia đình, bạn bè thì em thích ở Việt Nam hơn, bởi dẫu sao mình sống ở đó nhiều hơn, gia đình, bố mẹ, anh chị, bạn bè, tất cả đều ở đó. Nhưng cuộc sống ở Mỹ đâu ra đó, luật pháp, xã hội đâu ra đó, nên mình 'feel' được cái tự do của mình, thấy sống thoải mái, nên em thích sống ở Mỹ.”
Khoa khẳng định, “Em sẽ ở lại Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học để đi làm hoặc để học lên tiếp.”
(Bài có sự đóng góp thông tin của phóng viên Ðông Bàn)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112822&z=1
Sinh viên du học tại Mỹ, 'ngó dzậy mà không phải dzậy'
Sunday, May 09, 2010 Bookmark and Share
Một thành phần du học, nhiều hoàn cảnh xuất thân
Kỳ I
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Người ta hay nói, sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ là 'con ông cháu cha,' nhiều tiền lắm của, chỉ lo ăn chơi, em nghĩ điều đó có đúng không?” tôi hỏi Khoa Trần, sinh viên một trường đại học cộng đồng ở Orange County, California.
“Ðó là nhận xét hoàn toàn không đúng,” Khoa trả lời lập tức. “Trong 10 đứa học sinh Việt Nam thì hết 9 đứa rưỡi đã mơ ước được qua Mỹ học, không cần là giàu nghèo, là con ông cháu cha hay không.”
Câu chuyện về đề tài “Sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ có phải là kẻ nhiều tiền lắm của?” bắt đầu như thế.
Du học tự túc là “một sự liều lĩnh”
“Tốt nghiệp đại học, đang đi làm, tự dưng nảy ra ý muốn đi du học. Thế là em cùng với ba xách xe chạy đi hỏi cách thức làm giấy tờ đi du học ra làm sao.” Khoa nhớ lại.
Thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
Số F-1 visa cấp cho sinh viên, học sinh Việt Nam:
Tài khóa 2006: 3,718
Tài khóa 2007: 6,152
Tài khóa 2008: 9,216
Từ năm 2006 tới 2008, Việt Nam nhảy từ hạng 14 về số visa F-1, lên tới hạng 7, cao hơn Pháp, Anh, Thái Lan, Nga, Hong Kong...
“Em đi du học khi vừa học xong năm thứ nhất Ðại Học Bách Khoa,” Hưng Lê, một sinh viên du học khác, cho biết.
Lý do Hưng đi du học vì “thấy có nhiều bạn bè đi, em cũng muốn ‘cạnh tranh’ nên xin ba mẹ cho đi. Thêm vào đó em hiểu rằng nếu em được đi du học thì cơ hội mở rộng hơn cho em ở tương lai.”
Hưng nói: “Nhiều người nghĩ đi du học là gia đình phải thực sự giàu có, nhưng thực tế không phải vậy.” Theo Hưng, nhiều người chấp nhận đầu tư vào việc học cho con, vì tương lai của con cái nên thậm chí “bố mẹ có thể bán nhà cho con đi du học.”
Với con số hơn 10,000 du học sinh hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ theo nhiều chương trình khác nhau, Việt Nam trở thành một trong 10 nước có số sinh viên du học đông nhất tại Hoa Kỳ.
Chính sách bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng mở rộng, việc du học Hoa Kỳ “dễ thở” hơn đôi chút so với quá khứ, khiến cho giấc mơ “du học tại Mỹ” trở nên thôi thúc hơn đối với sinh viên học sinh Việt Nam.
Sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ theo nhiều cách khác nhau: theo diện học bổng, theo diện trao đổi văn hóa, và nhiều hơn hết là du học tự túc.
Chính vì lý do chuyện đi du học tự túc dễ dàng hơn, đời sống kinh tế cũng có phần khá hơn nên không phải chỉ có “con ông cháu cha” hay những kẻ “nhiều tiền lắm của” mới có thể cho con mình đi du học ở Mỹ.
Khoa nhận xét: “Nhiều gia đình không thực sự giàu có, nhưng họ cũng ráng cầm cự để lo cho con đi du học tự túc. Thậm chí là cả liều lĩnh nữa, như bản thân em cũng là một sự liều lĩnh. Em nghĩ, kệ, qua được thì cứ qua, học cái đã, kiếm tiền cái đã. Nghĩ vậy mà đi. Còn ai đó cho rằng tất cả du học sinh sang đây là phải giàu có thì không đúng đâu.”
Hiển nhiên, không phải tất cả du học sinh qua đây đều giàu có, nhưng không thể phủ nhận, có những trường hợp “lắm tiền lắm bạc” đến khó hiểu.
Cô sinh viên du học này làm cho một nhà hàng ở Little Saigon, nhận tiền mặt,
để trang trải chi phí trong thời gian đi học tại một đại học cộng đồng ở quận Cam, California. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Một sinh viên Mỹ gốc Việt, không nêu tên, kể rằng: “Ðám bạn cháu con nhà giàu ở Việt Nam qua Mỹ du học, chúng nó có học hành gì đâu. Chúng nó mang theo một đống tiền, qua đây dùng tiền mặt mua nhà rồi bán lại và cho vay với 20 phân lời. Chúng nó đã mua mấy căn ở Fountain Valley.”
Sinh viên du học này đưa thân nhân của một sinh viên gốc Việt, đến thăm và “khoe” căn nhà riêng của anh ta tại La Mirada. Sinh viên này cho biết: “Nhà mua bằng tiền mặt, tọa lạc trong khu có cổng an ninh, rộng gần bốn ngàn square feet, có hồ bơi.” Anh ta nói: “Bố mẹ cháu chuyển tiền sang và cháu trả đứt luôn, chứ hơi đâu mà mượn tiền ngân hàng.”
Cô Bích Ngọc, hiện làm y tá ở một bệnh viện tại quận Cam, cho biết, cô “tìm mua một căn nhà muốn hụt hơi.”
“Từ nửa năm qua, cứ tìm được căn nào vừa ý nằm trong học khu Fountain Valley thì y như rằng, căn nhà đã được bán... bằng tiền mặt cho người gốc Việt.” Cô Ngọc sau đó tìm hiểu thì biết được người mua là sinh viên từ Việt Nam sang. Cô thắc mắc, “không biết ở đâu ra mà những người này lắm tiền thế.”
Lắm tiền lắm bạc là như vậy, nhưng có những sinh viên khác, như câu chuyện của Ngọc Thi dưới đây, thì lý do du học “rất lạ.”
Ngọc Thi, đang học năm thứ hai tại Santa Ana College, ở quận Cam, California, cho biết: “Em đi du học khi đang là sinh viên năm thứ hai khoa Hóa, trường Ðại Học Bách Khoa. Khi đó cậu và dì thấy em có khả năng học được, nếu em đi du học sau này có tương lai hơn để giúp đỡ gia đình em, nên cậu và dì lo tiền cho em đi.” Thi kể.
Thế nhưng, lý do chính để Thi có mặt tại xứ sở giàu có bậc nhất thế giới này là vì “mọi người ở nhà ai cũng nghĩ rằng em sang đây sẽ kiếm tiền gửi về được ngay.” Thi nói như than.
Riêng với Quỳnh Anh, sinh viên Golden West College, ở quận Cam, California, thì lý do đi du học là vì “ở trong nhà hoài thì sẽ chẳng bao giờ lớn lên được.” Cho nên, ngay khi vừa tốt nghiệp trung học, Quỳnh Anh xin ba mẹ cho đi du học, dù “lúc đầu ba mẹ không cho, vì em là con gái út,” cô bé chỉ vừa 20 kể.
1001 lý do “du học tự túc“
Ðược đi du học Mỹ là niềm tự hào và hãnh diện của học sinh, sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên, không ai trong số những du học sinh tự túc mà chúng tôi gặp gỡ lại không biết trước những khó khăn mà họ sẽ phải đối diện khi xa nhà. Có điều, giữa “nghe nói” và “thực tế” vẫn là một khoảng cách.
“Trước khi em qua Mỹ, những người quen ở đây về nói là học ở Mỹ dễ lắm, tiền học rẻ, đi học lại có thêm khoản tiền này tiền kia, kiếm việc làm thêm cũng dễ. Nhưng những người đi trước cho em biết, sinh viên du học không được phép đi làm, học phí đóng rất mắc, rồi sẽ có những khó khăn về ngôn ngữ, văn hóa, này nọ.” Khoa Trần kể.
Nếu một cư dân địa phương ở California chỉ phải đóng $26 cho một 'unit' ở các trường đại học cộng đồng, và được hưởng thêm các khoảng tiền sách vở, tiền hỗ trợ đi học, có thể mượn tiền chính phủ,... thì du học sinh phải đóng hơn $200 cho một 'unit,' cùng tiền bảo hiểm sức khỏe và không được hưởng thêm những sự hỗ trợ tài chánh nào khác của chính phủ Hoa Kỳ.
Nghe thì nghe vậy, nhưng “chí nam nhi” thôi thúc Khoa “cứ muốn đi. Bởi, được đi học ở Mỹ là điều quá hấp dẫn, kế nữa là muốn thử thách mình, chứ ở yên hoài một chỗ thì cũng chẳng biết sao.”
Golden West College, một trong những đại học cộng đồng tại quận Cam, California,
thu nhận khá đông sinh viên du học từ Việt Nam sang. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Ðối diện với cuộc sống thực tế, sau hơn ba năm du học, Khoa cho rằng nhiều lúc mình cũng bị “áp lực,” bị trầm uất, có lúc “cực kỳ thất vọng,” nhưng “mỗi lần trải qua những chuyện như vậy thì em lại tự nhủ, có như thế mình mới khá lên được.” Khoa cười khi nói về kinh nghiệm đối diện với những khó khăn của mình.
Cô “con gái út” Quỳnh Anh cũng vậy.
“Không,” là câu mà Quỳnh Anh trả lời khi tôi hỏi: “Có bao giờ em phải suy nghĩ nhiều về chuyện cực khổ khi đi du học không?”
Quỳnh Anh tâm sự: “Em nghĩ đó là chuyện em phải trải qua khi đi du học. Chứ nếu cứ nghĩ sang đây đi học mà cũng đầy đủ, sung sướng như khi ở nhà với ba mẹ thì có lẽ sẽ không bao giờ bước chân ra đường tự sống được hết.”
Trải qua ba năm rưỡi sống đời du học sinh, Hưng cũng có nhận xét “thực tế khác nhiều với suy nghĩ trước khi sang đây.” Hưng cho rằng “có cái tốt, có cái chưa tốt,” nhưng “học được nhiều điều tốt hơn” là điều Hưng cảm thấy hài lòng trong những năm tháng qua.
“Em có thể làm nhiều chuyện theo những gì em nghĩ, chủ động trong cuộc sống, biết sống cuộc sống tự lập, biết nấu ăn, giặt giũ, biết làm ra tiền và quí trọng đồng tiền do chính mình làm ra.” Hưng chia sẻ.
Trong khi đó, Ngọc Thi, vừa đi học toàn thời gian (full-time), vừa đi làm 40 tiếng một tuần, trút nỗi niềm: “Em đã hình dung trước là gia đình không có khả năng lo cho em học đến nơi đến chốn, cũng nghĩ là sang đây em phải tự nắm lấy cuộc sống để trang trải. Nhưng em không hề nghĩ là tương lai mờ mịt như thế.”
Khó khăn chính mà Ngọc Thi đối đầu, không phải là chuyện tự lo tất cả cho mình, mà lại là “áp lực phải kiếm tiền gửi về cho gia đình, phụ ba mẹ nuôi bảy em nhỏ còn đang ở tuổi ăn học.”
Ngọc Thi cười buồn: “Ai cũng mong em sang đây đi làm kiếm tiền, họ không nghĩ rằng em lại cứ đâm đầu đi học như vậy.”
“Nhưng em cũng không hề hối hận là đã quyết định đi du học đâu. Cuộc sống em như vầy em cũng thích, bởi em làm được nhiều việc, không quản ngại gì hết, đến đâu hay đến đó.” Ngọc Thi nói cương quyết.
Với Hưng Lê thì “chỉ có thời gian khoảng ba tháng đầu là gia đình chu cấp tiền bạc, còn lại từ bấy đến giờ, đã hơn ba năm, mọi chi phí em tự lo hết bằng việc đi làm thêm ngoài giờ lên lớp.”
Vừa đi làm, vừa đi học “full-time”
$1,500 là khoản tiền tối thiểu mà cả Khoa, Thi, Hưng và Quỳnh Anh đều cho rằng mình cần phải có để chi phí cho chuyện học hành, ăn ở và tất cả các sinh hoạt khác trong một tháng. “Và phải đi bằng xe bus,” Khoa nói thêm.
“Em được bố mẹ cho bao nhiêu trong số đó?” tôi hỏi Ngọc Thi.
“Em không được đồng nào hết,” Thi nói liền không cần đắn đo.
Nhà Thi có tám chị em, Thi là con đầu. Bố mẹ chẳng khá giả như người ta thường nghĩ về những gia đình có con đi du học tự túc. Ngọc Thi được họ hàng lo cho đi du học với mục đích “kiếm tiền gửi về lo cho gia đình.”
Thế nhưng Thi lại rất mê học. “Từ lúc qua tới giờ em chưa bỏ mùa học nào, những khi nào có dư tiền thì mùa hè em cũng đóng tiền học luôn.” Thi khoe.
“Vậy tiền đâu học?”
“Em đi dạy kèm Toán, Hóa, làm 'babysit' em bé hai ngày cuối tuần, làm thêm những việc khác trong trường, trong phòng thí nghiệm. Có những chương trình làm 75 tiếng, nguyên mùa học, được trả $500. Có việc gì em làm việc đó.” Thi hào hứng kể chuyện bằng cách nào em có thể kiếm tiền trang trải cuộc sống của một du học sinh không có sự trợ giúp nào từ gia đình.
Xoay sở với đủ việc như vậy nhưng Ngọc Thi luôn giữ vững bảng điểm 4.0 của mình. “Em phải cố gắng học cho tốt để có thể mạnh dạn nói với thầy là bất cứ lúc nào, bất cứ công việc gì thầy có thì cứ gọi cho em làm.”
Chính sự cần mẫn đó mà Ngọc Thi cho rằng mình “may mắn có được công việc làm ở trường đã bốn mùa rồi.”
May mắn hơn Ngọc Thi, trung bình mỗi tháng Quỳnh Anh cũng được “ba mẹ cho vài trăm,” nhưng “tự xoay sở vẫn là chính.”
Ngoài giờ học, Quỳnh Anh kiếm việc làm thêm ở một quán ăn. “Em được chủ trả cho $6.5/giờ. Tiền 'tip' được nhận nhưng rất ít, bởi chia cho nhiều người trong bếp, rồi chủ cũng lấy nên chỉ được chừng vài chục cents một giờ thôi.”
Quỳnh Anh kể: “Lúc em mới sang du học thì ở chung với gia đình cậu, và không ai muốn em đi làm thêm, bởi sang đây là đi học chứ không phải đi làm. Thế nhưng chỉ được chừng một năm thì gia đình em gặp khó khăn, nên em đi kiếm việc. Cũng không thấy gì là bỡ ngỡ hay lạ lẫm gì khi đi làm thêm hết.” Quỳnh Anh hồn nhiên kể. “Mặc dù lúc ở nhà, gia đình có người giúp việc nên em chẳng phải làm gì.”
Theo Quỳnh Anh, ba mẹ em, cũng như bao phụ huynh khác, khi biết tin con mình phải bươn chải kiếm tiền ăn học thì “xót lắm.” Em kể, “Lúc nhà hàng thiếu người, em phải đi làm nhiều, nên lúc gọi điện thoại về cho ba mẹ, lúc nào em cũng mệt hết. Ba em xót lắm, nói em không cần phải làm nhiều như vậy, khi nào thiếu tiền thì nói để ba gửi qua.”
Quỳnh Anh trầm giọng: “Nhưng em biết ba em đâu có tiền, ba cũng phải đi mượn của người ta thôi, mượn thì phải trả. Nên em không có nói.”
Trường hợp của Khoa Trần cũng tương tự. Do đã để dành được ít tiền lúc đi làm ở Việt Nam, thêm bố mẹ và anh chị giúp, Khoa đủ tiền sang Mỹ học cho mùa đầu.
“Nếu học college mà siêng siêng đi làm thêm thì tự chi phí cũng đủ. Nhưng xui cho em là lúc đó kinh tế Mỹ xuống dốc, em đang có chân làm bồi bàn thì mất việc, lại phải kiếm những công việc lẹt xẹt khác để làm, cũng chỉ đủ ăn.”
“Gia đình em hỗ trợ em nhiều không?” tôi nhắc lại câu hỏi này với Khoa.
“Tính ra gia đình đã giúp em rất nhiều, tuy không thường xuyên, đều đặn. Khi em có việc làm đủ tiền thì em không xin nhà, khi túng quá la làng lên thì ba mẹ cũng sẽ tìm cách gửi qua cho. Nhưng thực sự trong thâm tâm em vẫn muốn tự lo cho bản thân mình.”
(Bài có sự đóng góp thông tin của phóng viên Ðinh Quang Anh Thái)
(Kỳ sau: Du học, những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại nước Mỹ)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112754&z=1
Wednesday, May 12, 2010 Bookmark and Share
Sinh viên Việt du học Mỹ, 'ngó dzậy mà không phải dzậy'
Kỳ cuối
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Ði du học là để có cơ hội mở rộng hơn ở tương lai,” “Ði du học để có thể kiếm thêm tiền phụ gia đình,” “Ði du học là chấp nhận sự liều lĩnh,” “Ði du học là để có cơ hội trưởng thành, lớn lên.” Ðó là lý do của một số sinh viên Việt Nam đang du học tự túc tại các trường đại học cộng đồng ở Orange County, California.
Với những lý do như vậy, không cần gia đình nào thực sự giàu có hay chỉ có gia đình “con ông cháu cha” mới có thể cho con em đi du học. Họ chấp nhận vay mượn, thậm chí cả bán nhà, để đầu tư vào chuyện học hành với hy vọng có một sự “đổi đời” cho con em họ về sau.
Nhiều du học sinh chỉ được gia đình hỗ trợ cho chi phí sang Mỹ hoặc thêm vài ba tháng đầu, sau đó, tự mỗi em sẽ xoay sở để tìm cách tự lập. Chính vì vậy, có nhiều sự thay đổi đã diễn ra không hề nằm trong dự tính của các du học sinh, kể cả ý định sẽ ở lại Hoa Kỳ sau khi tốt nghiệp.
Những điều không như dự tính
“Lúc còn ở Việt Nam cứ nghĩ qua đây có bác, sẽ ở nhà bác, mình đi làm được bao nhiêu, thiếu bao nhiêu bác sẽ phụ cho tiền đóng tiền học. Thế nhưng hoàn cảnh thực tế đâu cho phép bác giúp em như vậy.” Ngọc Thi kể về những điều không lường trước của mình.
“Bác cho em cái xe chạy đi học đi làm là em mừng lắm rồi. Còn nhà bác là 'housing' nên dù có muốn cũng đâu thể cho em ở được.” Cũng may mắn cho Thi ở chỗ, là sau thời gian chạy tới chạy lui kiếm chỗ ở hoài, thì gia đình mà Thi làm công việc “babysit” đã cho Thi một chỗ ở không lấy tiền. “Cũng nhờ vậy mà em mới có thể đủ tiền trang trải cho chuyện học.”
Khoa Trần, một sinh viên du học, nói rằng: “Nhiều gia đình không thực sự giàu có nhưng cũng ráng cầm cự cho con đi du học, một sự liều lĩnh.”
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Không chỉ phải tự lo cho bản thân nơi đây, mà Thi còn mang nặng tâm trạng phải lo cho gia đình ở Việt Nam.
Tôi hỏi Thi, “Làm sao em có tiền để gửi về cho bố mẹ?”
“Khi đi làm, chỉ để ra đủ tiền đóng tiền học, còn lại dư ra một chút nào em lại nhờ bác chuyển về nhà cho bố mẹ và các em, nhất là vào dịp Tết và đầu năm học.”
“Sao lại phải nhờ bác gửi?” Tôi hỏi và nghe giọng Thi như chực khóc: “Nếu em gửi thì sợ bên nhà nghĩ rằng em có tiền, mà em thì có tiền gì đâu, thực tình là em chẳng có dư đồng nào hết. Nên cứ để bác mang danh bác mà gửi về cho bố mẹ. Có một trăm em gửi một trăm, có năm chục em gửi năm chục, đôi khi có hai chục em cũng gửi.”
“Em có nói cho nhà biết là bên này em kiếm tiền rất khó không?”
“Không hiểu đâu chị ơi. Không hiểu đâu. Bố mẹ và cậu dì cứ nghĩ là em sang đi làm là có tiền liền, có tiền nhiều. Họ cứ nói sao hàng xóm nó đi, tiền nó gửi về hàng ngàn. Mà trời đất ơi, mình đi học, rồi đóng tiền học, tiền tùm lum, mà cứ giải thích nhiều lần cũng không có ai hiểu hết. Khi nhà có khó khăn lại gọi sang cho em, mà thực tình em có tiền đâu. Thành ra cực khổ gì ở đây em cũng chẳng dám than, chẳng dám nói gì hết.”
“Em biết có khó khăn lắm thì mẹ mới gọi đến em, nên hễ có bao nhiêu là em gửi hết. Một chút cũng có thể kham được trong lúc khó khăn.”
Thi giãi bày: “Mỗi lần gọi cho mẹ là mỗi lần mẹ khóc, mẹ than, em lại không có tiền nên từ Tết đến giờ em không dám gọi về nhà. Em chỉ lén hỏi thăm qua bác và gọi lén cho đứa em để biết tình hình ở nhà thôi.”
“Hy vọng vài năm nữa sẽ đỡ hơn.” Thi cười hy vọng.
Sân trường đại học cộng đồng Golden West College, California, nơi có đông đảo sinh viên du học từ Việt Nam sang.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Những hoàn cảnh như Thi không phải là hiếm, nhưng những hoàn cảnh “ngược lại,” cũng không thiếu. Một người gốc Việt làm cho một đại học cộng đồng nói rằng, tại trường của ông, đến 95% du học sinh Việt Nam không thể tốt nghiệp. Các sinh viên này đến học, học không nổi, nhưng nhà giàu nên không thèm quan tâm, đến khi về nước chỉ có mỗi... bằng lái xe.
Có những “diện” học bổng khác để sang Mỹ, là đi theo tiền của nhà nước Việt Nam. Không thiếu những người học giỏi, và cũng không hề thiếu những người học hoài, học miết, mà không qua được các lớp Anh ngữ. Một sinh viên du học kể về trường hợp anh biết tại một trường đại học cộng đồng ở San Diego. Một sinh viên lớn tuổi, đi theo “diện học bổng” của nhà nước Việt Nam. “Phải nói là ông này không thiếu tiền. Ông mướn căn phòng riêng trong một gia đình Mỹ, tiền nhà trả khá cao, lại mướn riêng giáo viên về dạy Anh văn cho mình.”
Trong khi các sinh viên “con nhà nghèo” khác nai lưng ra vừa đi học, vừa đi làm, “ông sinh viên” lớn tuổi đã không qua được các khóa tiếng Anh, và đành về lại Việt Nam.
Trở lại với những sinh viên du học có hoàn cảnh khó khăn. Cô Quỳnh Anh, một sinh viên du học tại quận Cam, nói mỗi tháng ba mẹ cô giúp cho khoảng một phần ba số tiền học. Nhờ đi làm thêm, Quỳnh Anh để dành được tiền mua vé về Việt Nam thăm ba mẹ một lần.
“Ai cũng khen em hết. Mọi người nói em qua đây một mình, tự lập, đi làm và đi học, còn mua được vé về, còn mang tiền cho mẹ nữa.” Quỳnh Anh cười khúc khích.
Tôi hỏi nhỏ: “Em cho mẹ được bao nhiêu?”
Tiếng Quỳnh Anh cười bẽn lẽn: “Dạ có năm trăm à.”
Với Hưng Lê thì những dự tính lúc đầu trước khi du học và thực tế cũng khác hẳn nhau. “Lúc đầu ở nhà tính là sang đây sẽ ở nhà người quen. Nhưng chỉ được một thời gian thì với nhiều lý do, em phải kiếm chỗ ở khác. Thành ra những chi phí dôi ra cho khoảng tiền thuê nhà, gas, điện, nước là không có trong dự tính lúc đầu.”
May mắn là chỉ sau hai tháng bỡ ngỡ, Hưng đã tìm được việc làm thêm, dù là làm “chui,” để có tiền trang trải nhiều khoản chi phí, và không phải xin thêm tiền gia đình.
Khó khăn với nhiều thứ như vậy nhưng Ngọc Thi, Quỳnh Anh, Hưng Lê và Khoa Trần đều cho rằng mình may mắn hơn một số bạn bè du học khác.
Quỳnh Anh chia sẻ: “Em thấy mình may mắn vì vẫn còn được đi học. Có một vài bạn em biết do gia đình không gửi tiền sang, hoặc họ không dự trù được hết cuộc sống ở đây nên cứ phải đóng tiền học ESL, rồi bỏ học đi làm.”
“Một số bạn qua đây không phải vì mục đích chính là học mà là để kiếm tiền nên cứ kiếm trường nào thật dễ để nhận được visa du học, rồi sau đó lại kiếm những trường 'ma' nào đó mà chỉ cần đóng tiền chứ không cần tới lớp, để gia hạn visa. Xong họ đi làm nail, là nhà hàng kiếm tiền và tìm cơ hội ở lại.” Khoa kể câu chuyện một số bạn bè chung quanh.
Học xong đều mong ‘ở lại Mỹ’
Khó khăn và nhiều thử thách đối với những sinh viên du học tự túc không thuộc diện con nhà giàu hay “con ông cháu cha,” thế nhưng những sinh viên mà tôi biết đều không hề có ý định bỏ cuộc sự nghiệp học hành của mình.
“Mùa Thu tới đây em sẽ chuyển lên Ðại Học Fullerton. Em muốn học cho nhanh. Tuổi em đúng ra theo kế hoạch ban đầu đã phải học xong master rồi.” Khoa tự tin nói về hướng sắp tới của mình. “Khi lên đại học, em sẽ phải cần nhiều sự giúp đỡ tài chánh của gia đình, bởi em vừa phải giảm giờ làm lo cho việc học, mà học phí đại học lại quá cao.”
Không lạc quan như Khoa Trần, sau 3 năm học ở Santa Ana College, Ngọc Thi chưa dám chắc bao giờ mình mới có thể chuyển tiếp lên hệ đại học.
Thi nói bằng giọng thật buồn: “Ở college thì em còn lo được chứ 'transfer' thì làm sao em có đủ tiền để đóng tiền học. Ðúng lý ra thì mùa Thu tới đây đã có thể 'transfer' rồi nhưng chưa nghĩ ra cách gì có tiền đi học tiếp nên thôi ráng ở lại college thêm mùa nữa, khi nào có đủ tiền thì vào Cal State chứ cũng không dám mơ vô university như trước đây em từng mơ.”
Có điều dù đi học full-time - điều kiện bắt buộc đối với du học sinh, và đi làm 40 giờ một tuần, “cực lắm, cuối tuần không có thời gian nghĩ nữa, nhưng khi mình đã muốn thì mình cũng sắp xếp thời gian làm được hết, em vẫn sinh hoạt trong ca đoàn, vẫn tham gia Sinh Viên Công Giáo, vẫn 'enjoy' mọi thứ,” giọng Thi lại trong vắt tiếng cười.
Hưng Lê thì dự tính lúc đầu sẽ học tiếp ngành em đang theo học ở Việt Nam là “Bio Technology.” Nhưng “vì thời gian học không phù hợp,” sau một năm du học, Hưng lại có ý định chuyển sang học ngành dược, rồi lại loay hoay với ý định học “nurse.” Tuy nhiên, sau tất cả mọi dự định thì “mùa học tới em sẽ 'transfer' vào ngành 'business.' Ðó là lựa chọn cuối cùng của em.”
Quỳnh Anh thì dự định học y tá. Nhưng “em vừa thấy mình có máu kinh doanh giống ba, vừa cũng thích nói chuyện và giúp đỡ người bệnh nữa. Nên bây giờ em cũng chưa quyết định sẽ học cái gì, vẫn tập trung học những môn chung trước.”
Do nhiều yếu tố, hầu hết các du học sinh đều không theo đúng với những gì mình suy nghĩ và dự tính lúc đầu. Thời gian phải bỏ ra cho việc học để lấy được một tấm bằng nào đó bao giờ cũng lâu hơn kế hoạch ban đầu, bởi nhiều lý do về tài chánh hoặc ngành học không phù hợp. Có điều, sau khi học xong “sẽ ở lại tìm việc làm ở Mỹ” là quyết định của tất cả các du học sinh này.
“Công sức em đổ ra quá nhiều rồi, em muốn lấy lại những gì em đã đánh đổi. Nếu em về Việt Nam, thì có đi làm cả đời em cũng không thể nào lấy lại được những gì em đã bỏ ra,” Ngọc Thi nói dứt khoát. Xa nhà đã ba năm, muốn nhưng chưa có điều kiện về thăm nhà, nên học xong sẽ về Việt Nam thăm gia đình cũng là dự tính của Thi.
“Học xong em sẽ ở lại tìm việc làm, có điều làm gì thì em chưa biết.” Quỳnh Anh cười cho biết.
Hưng Lê ước mơ: “Sau khi tốt nghiệp, em muốn có cơ hội ở lại Mỹ làm việc. Em thích cuộc sống ở đây. Ở đây không cần phải giàu, chỉ cần biết tằn tiện, tiết kiệm vừa phải thì mình cũng như bao người khác, an tâm với cuộc sống.”
Tôi hỏi Khoa: “Tại sao hầu hết du học sinh đều muốn ở lại Mỹ sau khi ra trường vậy?”
Khoa nhìn tôi cười, có lẽ em đang nghĩ tôi có cần không một câu hỏi “ngớ ngẩn” đến vậy.
Khoa nói, “Về tình cảm cá nhân, gia đình, bạn bè thì em thích ở Việt Nam hơn, bởi dẫu sao mình sống ở đó nhiều hơn, gia đình, bố mẹ, anh chị, bạn bè, tất cả đều ở đó. Nhưng cuộc sống ở Mỹ đâu ra đó, luật pháp, xã hội đâu ra đó, nên mình 'feel' được cái tự do của mình, thấy sống thoải mái, nên em thích sống ở Mỹ.”
Khoa khẳng định, “Em sẽ ở lại Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học để đi làm hoặc để học lên tiếp.”
(Bài có sự đóng góp thông tin của phóng viên Ðông Bàn)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112822&z=1
Sinh viên du học tại Mỹ, 'ngó dzậy mà không phải dzậy'
Sunday, May 09, 2010 Bookmark and Share
Một thành phần du học, nhiều hoàn cảnh xuất thân
Kỳ I
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Người ta hay nói, sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ là 'con ông cháu cha,' nhiều tiền lắm của, chỉ lo ăn chơi, em nghĩ điều đó có đúng không?” tôi hỏi Khoa Trần, sinh viên một trường đại học cộng đồng ở Orange County, California.
“Ðó là nhận xét hoàn toàn không đúng,” Khoa trả lời lập tức. “Trong 10 đứa học sinh Việt Nam thì hết 9 đứa rưỡi đã mơ ước được qua Mỹ học, không cần là giàu nghèo, là con ông cháu cha hay không.”
Câu chuyện về đề tài “Sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ có phải là kẻ nhiều tiền lắm của?” bắt đầu như thế.
Du học tự túc là “một sự liều lĩnh”
“Tốt nghiệp đại học, đang đi làm, tự dưng nảy ra ý muốn đi du học. Thế là em cùng với ba xách xe chạy đi hỏi cách thức làm giấy tờ đi du học ra làm sao.” Khoa nhớ lại.
Thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
Số F-1 visa cấp cho sinh viên, học sinh Việt Nam:
Tài khóa 2006: 3,718
Tài khóa 2007: 6,152
Tài khóa 2008: 9,216
Từ năm 2006 tới 2008, Việt Nam nhảy từ hạng 14 về số visa F-1, lên tới hạng 7, cao hơn Pháp, Anh, Thái Lan, Nga, Hong Kong...
“Em đi du học khi vừa học xong năm thứ nhất Ðại Học Bách Khoa,” Hưng Lê, một sinh viên du học khác, cho biết.
Lý do Hưng đi du học vì “thấy có nhiều bạn bè đi, em cũng muốn ‘cạnh tranh’ nên xin ba mẹ cho đi. Thêm vào đó em hiểu rằng nếu em được đi du học thì cơ hội mở rộng hơn cho em ở tương lai.”
Hưng nói: “Nhiều người nghĩ đi du học là gia đình phải thực sự giàu có, nhưng thực tế không phải vậy.” Theo Hưng, nhiều người chấp nhận đầu tư vào việc học cho con, vì tương lai của con cái nên thậm chí “bố mẹ có thể bán nhà cho con đi du học.”
Với con số hơn 10,000 du học sinh hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ theo nhiều chương trình khác nhau, Việt Nam trở thành một trong 10 nước có số sinh viên du học đông nhất tại Hoa Kỳ.
Chính sách bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng mở rộng, việc du học Hoa Kỳ “dễ thở” hơn đôi chút so với quá khứ, khiến cho giấc mơ “du học tại Mỹ” trở nên thôi thúc hơn đối với sinh viên học sinh Việt Nam.
Sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ theo nhiều cách khác nhau: theo diện học bổng, theo diện trao đổi văn hóa, và nhiều hơn hết là du học tự túc.
Chính vì lý do chuyện đi du học tự túc dễ dàng hơn, đời sống kinh tế cũng có phần khá hơn nên không phải chỉ có “con ông cháu cha” hay những kẻ “nhiều tiền lắm của” mới có thể cho con mình đi du học ở Mỹ.
Khoa nhận xét: “Nhiều gia đình không thực sự giàu có, nhưng họ cũng ráng cầm cự để lo cho con đi du học tự túc. Thậm chí là cả liều lĩnh nữa, như bản thân em cũng là một sự liều lĩnh. Em nghĩ, kệ, qua được thì cứ qua, học cái đã, kiếm tiền cái đã. Nghĩ vậy mà đi. Còn ai đó cho rằng tất cả du học sinh sang đây là phải giàu có thì không đúng đâu.”
Hiển nhiên, không phải tất cả du học sinh qua đây đều giàu có, nhưng không thể phủ nhận, có những trường hợp “lắm tiền lắm bạc” đến khó hiểu.
Cô sinh viên du học này làm cho một nhà hàng ở Little Saigon, nhận tiền mặt,
để trang trải chi phí trong thời gian đi học tại một đại học cộng đồng ở quận Cam, California. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Một sinh viên Mỹ gốc Việt, không nêu tên, kể rằng: “Ðám bạn cháu con nhà giàu ở Việt Nam qua Mỹ du học, chúng nó có học hành gì đâu. Chúng nó mang theo một đống tiền, qua đây dùng tiền mặt mua nhà rồi bán lại và cho vay với 20 phân lời. Chúng nó đã mua mấy căn ở Fountain Valley.”
Sinh viên du học này đưa thân nhân của một sinh viên gốc Việt, đến thăm và “khoe” căn nhà riêng của anh ta tại La Mirada. Sinh viên này cho biết: “Nhà mua bằng tiền mặt, tọa lạc trong khu có cổng an ninh, rộng gần bốn ngàn square feet, có hồ bơi.” Anh ta nói: “Bố mẹ cháu chuyển tiền sang và cháu trả đứt luôn, chứ hơi đâu mà mượn tiền ngân hàng.”
Cô Bích Ngọc, hiện làm y tá ở một bệnh viện tại quận Cam, cho biết, cô “tìm mua một căn nhà muốn hụt hơi.”
“Từ nửa năm qua, cứ tìm được căn nào vừa ý nằm trong học khu Fountain Valley thì y như rằng, căn nhà đã được bán... bằng tiền mặt cho người gốc Việt.” Cô Ngọc sau đó tìm hiểu thì biết được người mua là sinh viên từ Việt Nam sang. Cô thắc mắc, “không biết ở đâu ra mà những người này lắm tiền thế.”
Lắm tiền lắm bạc là như vậy, nhưng có những sinh viên khác, như câu chuyện của Ngọc Thi dưới đây, thì lý do du học “rất lạ.”
Ngọc Thi, đang học năm thứ hai tại Santa Ana College, ở quận Cam, California, cho biết: “Em đi du học khi đang là sinh viên năm thứ hai khoa Hóa, trường Ðại Học Bách Khoa. Khi đó cậu và dì thấy em có khả năng học được, nếu em đi du học sau này có tương lai hơn để giúp đỡ gia đình em, nên cậu và dì lo tiền cho em đi.” Thi kể.
Thế nhưng, lý do chính để Thi có mặt tại xứ sở giàu có bậc nhất thế giới này là vì “mọi người ở nhà ai cũng nghĩ rằng em sang đây sẽ kiếm tiền gửi về được ngay.” Thi nói như than.
Riêng với Quỳnh Anh, sinh viên Golden West College, ở quận Cam, California, thì lý do đi du học là vì “ở trong nhà hoài thì sẽ chẳng bao giờ lớn lên được.” Cho nên, ngay khi vừa tốt nghiệp trung học, Quỳnh Anh xin ba mẹ cho đi du học, dù “lúc đầu ba mẹ không cho, vì em là con gái út,” cô bé chỉ vừa 20 kể.
1001 lý do “du học tự túc“
Ðược đi du học Mỹ là niềm tự hào và hãnh diện của học sinh, sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên, không ai trong số những du học sinh tự túc mà chúng tôi gặp gỡ lại không biết trước những khó khăn mà họ sẽ phải đối diện khi xa nhà. Có điều, giữa “nghe nói” và “thực tế” vẫn là một khoảng cách.
“Trước khi em qua Mỹ, những người quen ở đây về nói là học ở Mỹ dễ lắm, tiền học rẻ, đi học lại có thêm khoản tiền này tiền kia, kiếm việc làm thêm cũng dễ. Nhưng những người đi trước cho em biết, sinh viên du học không được phép đi làm, học phí đóng rất mắc, rồi sẽ có những khó khăn về ngôn ngữ, văn hóa, này nọ.” Khoa Trần kể.
Nếu một cư dân địa phương ở California chỉ phải đóng $26 cho một 'unit' ở các trường đại học cộng đồng, và được hưởng thêm các khoảng tiền sách vở, tiền hỗ trợ đi học, có thể mượn tiền chính phủ,... thì du học sinh phải đóng hơn $200 cho một 'unit,' cùng tiền bảo hiểm sức khỏe và không được hưởng thêm những sự hỗ trợ tài chánh nào khác của chính phủ Hoa Kỳ.
Nghe thì nghe vậy, nhưng “chí nam nhi” thôi thúc Khoa “cứ muốn đi. Bởi, được đi học ở Mỹ là điều quá hấp dẫn, kế nữa là muốn thử thách mình, chứ ở yên hoài một chỗ thì cũng chẳng biết sao.”
Golden West College, một trong những đại học cộng đồng tại quận Cam, California,
thu nhận khá đông sinh viên du học từ Việt Nam sang. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Ðối diện với cuộc sống thực tế, sau hơn ba năm du học, Khoa cho rằng nhiều lúc mình cũng bị “áp lực,” bị trầm uất, có lúc “cực kỳ thất vọng,” nhưng “mỗi lần trải qua những chuyện như vậy thì em lại tự nhủ, có như thế mình mới khá lên được.” Khoa cười khi nói về kinh nghiệm đối diện với những khó khăn của mình.
Cô “con gái út” Quỳnh Anh cũng vậy.
“Không,” là câu mà Quỳnh Anh trả lời khi tôi hỏi: “Có bao giờ em phải suy nghĩ nhiều về chuyện cực khổ khi đi du học không?”
Quỳnh Anh tâm sự: “Em nghĩ đó là chuyện em phải trải qua khi đi du học. Chứ nếu cứ nghĩ sang đây đi học mà cũng đầy đủ, sung sướng như khi ở nhà với ba mẹ thì có lẽ sẽ không bao giờ bước chân ra đường tự sống được hết.”
Trải qua ba năm rưỡi sống đời du học sinh, Hưng cũng có nhận xét “thực tế khác nhiều với suy nghĩ trước khi sang đây.” Hưng cho rằng “có cái tốt, có cái chưa tốt,” nhưng “học được nhiều điều tốt hơn” là điều Hưng cảm thấy hài lòng trong những năm tháng qua.
“Em có thể làm nhiều chuyện theo những gì em nghĩ, chủ động trong cuộc sống, biết sống cuộc sống tự lập, biết nấu ăn, giặt giũ, biết làm ra tiền và quí trọng đồng tiền do chính mình làm ra.” Hưng chia sẻ.
Trong khi đó, Ngọc Thi, vừa đi học toàn thời gian (full-time), vừa đi làm 40 tiếng một tuần, trút nỗi niềm: “Em đã hình dung trước là gia đình không có khả năng lo cho em học đến nơi đến chốn, cũng nghĩ là sang đây em phải tự nắm lấy cuộc sống để trang trải. Nhưng em không hề nghĩ là tương lai mờ mịt như thế.”
Khó khăn chính mà Ngọc Thi đối đầu, không phải là chuyện tự lo tất cả cho mình, mà lại là “áp lực phải kiếm tiền gửi về cho gia đình, phụ ba mẹ nuôi bảy em nhỏ còn đang ở tuổi ăn học.”
Ngọc Thi cười buồn: “Ai cũng mong em sang đây đi làm kiếm tiền, họ không nghĩ rằng em lại cứ đâm đầu đi học như vậy.”
“Nhưng em cũng không hề hối hận là đã quyết định đi du học đâu. Cuộc sống em như vầy em cũng thích, bởi em làm được nhiều việc, không quản ngại gì hết, đến đâu hay đến đó.” Ngọc Thi nói cương quyết.
Với Hưng Lê thì “chỉ có thời gian khoảng ba tháng đầu là gia đình chu cấp tiền bạc, còn lại từ bấy đến giờ, đã hơn ba năm, mọi chi phí em tự lo hết bằng việc đi làm thêm ngoài giờ lên lớp.”
Vừa đi làm, vừa đi học “full-time”
$1,500 là khoản tiền tối thiểu mà cả Khoa, Thi, Hưng và Quỳnh Anh đều cho rằng mình cần phải có để chi phí cho chuyện học hành, ăn ở và tất cả các sinh hoạt khác trong một tháng. “Và phải đi bằng xe bus,” Khoa nói thêm.
“Em được bố mẹ cho bao nhiêu trong số đó?” tôi hỏi Ngọc Thi.
“Em không được đồng nào hết,” Thi nói liền không cần đắn đo.
Nhà Thi có tám chị em, Thi là con đầu. Bố mẹ chẳng khá giả như người ta thường nghĩ về những gia đình có con đi du học tự túc. Ngọc Thi được họ hàng lo cho đi du học với mục đích “kiếm tiền gửi về lo cho gia đình.”
Thế nhưng Thi lại rất mê học. “Từ lúc qua tới giờ em chưa bỏ mùa học nào, những khi nào có dư tiền thì mùa hè em cũng đóng tiền học luôn.” Thi khoe.
“Vậy tiền đâu học?”
“Em đi dạy kèm Toán, Hóa, làm 'babysit' em bé hai ngày cuối tuần, làm thêm những việc khác trong trường, trong phòng thí nghiệm. Có những chương trình làm 75 tiếng, nguyên mùa học, được trả $500. Có việc gì em làm việc đó.” Thi hào hứng kể chuyện bằng cách nào em có thể kiếm tiền trang trải cuộc sống của một du học sinh không có sự trợ giúp nào từ gia đình.
Xoay sở với đủ việc như vậy nhưng Ngọc Thi luôn giữ vững bảng điểm 4.0 của mình. “Em phải cố gắng học cho tốt để có thể mạnh dạn nói với thầy là bất cứ lúc nào, bất cứ công việc gì thầy có thì cứ gọi cho em làm.”
Chính sự cần mẫn đó mà Ngọc Thi cho rằng mình “may mắn có được công việc làm ở trường đã bốn mùa rồi.”
May mắn hơn Ngọc Thi, trung bình mỗi tháng Quỳnh Anh cũng được “ba mẹ cho vài trăm,” nhưng “tự xoay sở vẫn là chính.”
Ngoài giờ học, Quỳnh Anh kiếm việc làm thêm ở một quán ăn. “Em được chủ trả cho $6.5/giờ. Tiền 'tip' được nhận nhưng rất ít, bởi chia cho nhiều người trong bếp, rồi chủ cũng lấy nên chỉ được chừng vài chục cents một giờ thôi.”
Quỳnh Anh kể: “Lúc em mới sang du học thì ở chung với gia đình cậu, và không ai muốn em đi làm thêm, bởi sang đây là đi học chứ không phải đi làm. Thế nhưng chỉ được chừng một năm thì gia đình em gặp khó khăn, nên em đi kiếm việc. Cũng không thấy gì là bỡ ngỡ hay lạ lẫm gì khi đi làm thêm hết.” Quỳnh Anh hồn nhiên kể. “Mặc dù lúc ở nhà, gia đình có người giúp việc nên em chẳng phải làm gì.”
Theo Quỳnh Anh, ba mẹ em, cũng như bao phụ huynh khác, khi biết tin con mình phải bươn chải kiếm tiền ăn học thì “xót lắm.” Em kể, “Lúc nhà hàng thiếu người, em phải đi làm nhiều, nên lúc gọi điện thoại về cho ba mẹ, lúc nào em cũng mệt hết. Ba em xót lắm, nói em không cần phải làm nhiều như vậy, khi nào thiếu tiền thì nói để ba gửi qua.”
Quỳnh Anh trầm giọng: “Nhưng em biết ba em đâu có tiền, ba cũng phải đi mượn của người ta thôi, mượn thì phải trả. Nên em không có nói.”
Trường hợp của Khoa Trần cũng tương tự. Do đã để dành được ít tiền lúc đi làm ở Việt Nam, thêm bố mẹ và anh chị giúp, Khoa đủ tiền sang Mỹ học cho mùa đầu.
“Nếu học college mà siêng siêng đi làm thêm thì tự chi phí cũng đủ. Nhưng xui cho em là lúc đó kinh tế Mỹ xuống dốc, em đang có chân làm bồi bàn thì mất việc, lại phải kiếm những công việc lẹt xẹt khác để làm, cũng chỉ đủ ăn.”
“Gia đình em hỗ trợ em nhiều không?” tôi nhắc lại câu hỏi này với Khoa.
“Tính ra gia đình đã giúp em rất nhiều, tuy không thường xuyên, đều đặn. Khi em có việc làm đủ tiền thì em không xin nhà, khi túng quá la làng lên thì ba mẹ cũng sẽ tìm cách gửi qua cho. Nhưng thực sự trong thâm tâm em vẫn muốn tự lo cho bản thân mình.”
(Bài có sự đóng góp thông tin của phóng viên Ðinh Quang Anh Thái)
(Kỳ sau: Du học, những ngả rẽ bất ngờ và ước mơ ở lại nước Mỹ)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=112754&z=1
Thursday, March 11, 2010
Du học tại Hoa Kỳ
Du học tại Hoa Kỳ
Saturday, March 06, 2010
Nguyễn Xuân
Cho dù hiện nay nền kinh tế Hoa Kỳ hiện đang gặp khó khăn, nhiều tiểu bang phải cắt giảm ngân sách giáo dục, tạo sự khó khăn để duy trì phẩm chất và hoàn cảnh học hành tốt đẹp cho sinh viên, nhưng rất nhiều người ở khắp nơi trên thế giới vẫn muốn theo học đại học ở Hoa Kỳ.
Các nguyên do chính là vì trường đại học Hoa Kỳ thường xuyên đứng đầu trên danh sách các trường của thế giới, vì người sinh viên có nhiều cơ hội lựa chọn ngành học và sự uyển chuyển của hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ, và cũng vì có nhiều khả năng kiếm việc làm từ các công ty Hoa Kỳ hay các công ty quốc tế sau khi tốt nghiệp.
Hiện nay Hoa Kỳ có nhiều sinh viên ngoại quốc đến học hơn là bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, với khoảng hơn 600,000 người. Số sinh viên quốc tế chiếm khoảng 4% tổng số sinh viên cử nhân ở Hoa Kỳ và khoảng hơn 10% thành phần sinh viên bậc trên cử nhân. Các sinh viên này cũng đóng góp mỗi năm hơn $13 tỉ vào nền kinh tế Hoa Kỳ.
Nhưng sự đa dạng của hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ cũng làm cho nhiều người cảm thấy như đi vào mê hồn trận khi muốn nạp đơn xin học. Xin vào trường nào, làm sao biết được trường có tốt hay không, làm sao xin, cần giấy tờ gì, chi phí ra sao, liệu có xin được học bổng hay không và làm thế nào để xin... là những câu hỏi thường thấy nhất.
Những câu hỏi này, thật ra không chỉ đến từ những người sống bên ngoài nước Mỹ, mà còn từ ở những người đang sống trên đất nước này. Vì đã từng xảy ra nhiều trường hợp “khóc dở mếu dở” do đóng tiền theo học một trường nào đó rồi về sau mới biết là văn bằng được cấp chẳng có giá trị vì trường không được sự chứng nhận cần thiết (accredited), chẳng thể dùng để học lên cao hơn hay nộp xin việc làm. Ngoài ra cũng có một số lường gạt khác như đóng tiền để giúp “kiếm học bổng” mà chỉ nhận được một danh sách các nơi xin chung chung, có thể kiếm dễ dàng trên Internet, một trò lừa không ít người sống ở Hoa Kỳ cũng gặp qua.
Con đường nộp đơn xin học đại học ở Hoa Kỳ cho sinh viên từ các nước khác tuy mất thời giờ nhưng có hướng đi rõ rệt, thông thường người nộp đơn cần phải mất khoảng 18 tháng.
Bài tới: Bước đầu của tiến trình xin học đại học Mỹ
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=109434&z=150
Saturday, March 06, 2010
Nguyễn Xuân
Cho dù hiện nay nền kinh tế Hoa Kỳ hiện đang gặp khó khăn, nhiều tiểu bang phải cắt giảm ngân sách giáo dục, tạo sự khó khăn để duy trì phẩm chất và hoàn cảnh học hành tốt đẹp cho sinh viên, nhưng rất nhiều người ở khắp nơi trên thế giới vẫn muốn theo học đại học ở Hoa Kỳ.
Các nguyên do chính là vì trường đại học Hoa Kỳ thường xuyên đứng đầu trên danh sách các trường của thế giới, vì người sinh viên có nhiều cơ hội lựa chọn ngành học và sự uyển chuyển của hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ, và cũng vì có nhiều khả năng kiếm việc làm từ các công ty Hoa Kỳ hay các công ty quốc tế sau khi tốt nghiệp.
Hiện nay Hoa Kỳ có nhiều sinh viên ngoại quốc đến học hơn là bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, với khoảng hơn 600,000 người. Số sinh viên quốc tế chiếm khoảng 4% tổng số sinh viên cử nhân ở Hoa Kỳ và khoảng hơn 10% thành phần sinh viên bậc trên cử nhân. Các sinh viên này cũng đóng góp mỗi năm hơn $13 tỉ vào nền kinh tế Hoa Kỳ.
Nhưng sự đa dạng của hệ thống giáo dục đại học ở Hoa Kỳ cũng làm cho nhiều người cảm thấy như đi vào mê hồn trận khi muốn nạp đơn xin học. Xin vào trường nào, làm sao biết được trường có tốt hay không, làm sao xin, cần giấy tờ gì, chi phí ra sao, liệu có xin được học bổng hay không và làm thế nào để xin... là những câu hỏi thường thấy nhất.
Những câu hỏi này, thật ra không chỉ đến từ những người sống bên ngoài nước Mỹ, mà còn từ ở những người đang sống trên đất nước này. Vì đã từng xảy ra nhiều trường hợp “khóc dở mếu dở” do đóng tiền theo học một trường nào đó rồi về sau mới biết là văn bằng được cấp chẳng có giá trị vì trường không được sự chứng nhận cần thiết (accredited), chẳng thể dùng để học lên cao hơn hay nộp xin việc làm. Ngoài ra cũng có một số lường gạt khác như đóng tiền để giúp “kiếm học bổng” mà chỉ nhận được một danh sách các nơi xin chung chung, có thể kiếm dễ dàng trên Internet, một trò lừa không ít người sống ở Hoa Kỳ cũng gặp qua.
Con đường nộp đơn xin học đại học ở Hoa Kỳ cho sinh viên từ các nước khác tuy mất thời giờ nhưng có hướng đi rõ rệt, thông thường người nộp đơn cần phải mất khoảng 18 tháng.
Bài tới: Bước đầu của tiến trình xin học đại học Mỹ
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=109434&z=150
Saturday, December 19, 2009
Du Học Miễn Phí
Du Học Miễn Phí
Tác giả: Nguyễn Thi
Bài số 2810-1628880- vb2121409
Tác giả là cư dân Bắc California, đã nhận giải đặc biệt viết về nước Mỹ 2008 với nhiều bài viết giá trị về nhà trường và gia đình. Bà hiện là một Facilitator -giúp hướng dẫn những buổi học thảo nói về hệ thống học đường tại California. Bài mới của bà là một tự truyện thời mới đến Hoa Kỳ để trả lời câu hỏi làm sao hội nhập vào đời sống Mỹ.
***
Mấy ngày hôm nay thời tiết bỗng thay đổi bất thường. Bầu trời vùng Bắc California biến thành một mầu xám xịt, bao trùm gió buốt mùa đông đi kèm theo vài cơn mưa tuyết làm lũ trẻ con ngạc nhiên, hý hửng ra sân chơi trò ném tuyết và làm người tuyết.
Nhìn xe cộ chạy chậm chạp dưới đường phố qua khung cửa, Kim nhớ lại lời các bạn đồng nghiệp cứ đốc thúc Kim phải viết đề tài làm sao hội nhập vào đời sống khi mới đến Hoa Kỳ để đại diện nhóm phát biểu trong ngày Lễ Giáng Sinh sắp đến. Bắt đầu từ đâu bây giờ? Thôi thì cứ trả lời theo thứ tự "thời gian, không gian, cái gì, ai đó, và làm sao" như lời thầy cô đã dạy trong trường vậy!
Gia đình Kim cuối cùng rồi cũng được ra khỏi trại tỵ nạn Camp Pendleton, sau hai tháng dài chờ người bảo trợ. Số là gia đình Kim có tới 6 người gồm ba má và 4 đứa con nít. Quả là một gánh nặng cho những ai muốn bảo trợ. Ba Kim nói khi đi phỏng vấn có nhiều ông chủ biết ba có tay nghề sửa tivi và radio nên họ muốn đưa ba ra khỏi trại, nhưng lúc nghe nói đến bầu thê tử dài lê thê thì ai cũng lắc đầu từ chối.
Ngày ngày thấy ba vẫn lên lều trưởng trại giúp việc mà chưa động đậy việc định cư, anh lính Mỹ thủy quân lục chiến làm việc cùng lều hỏi ba có muốn anh ấy nhờ nhà thờ của anh bảo trợ hay không? Ba hỏi nhà thờ ở đâu thì anh ấy nói ở Montana. Ba liền về bàn với gia đình:
- Tính ra thì gia đình mình rời Việt Nam từ cuối tháng 4/75. Lênh đênh trên biển cả tuần mới tới Phi luật tân. Rồi ở đảo Guam hơn hai tháng mới đến Camp Pendleton, California. Bây giờ ở đây cũng gần hai tháng mà chưa ai bảo trợ ra khỏi trại. Kim có biết gì về tiểu bang Montana không?
- Con chỉ nhớ hồi đó học "English for Today" thầy giáo có nói Montana là xứ của thổ dân mọi da đỏ.
Ba biết là hỏi má cũng bằng thừa vì má chả biết gì về nước Mỹ cả nên ba quyết định.
- Ba nghĩ là chúng ta đành phải nhờ nhà thờ bảo trợ vậy vì ba nghe nói tháng 9 là học sinh bắt đầu tựu trường. Hơn nữa nếu anh lính Mỹ da trắng cao ráo và gia đình anh sống ở Montana được thì mình cũng ở được!
Thế là hôm sau ba gặp anh lính thủy quân lục chiến và nhờ anh làm thủ tục nhờ nhà thờ anh bảo trợ. Gần cuối tháng 8, 1975, gia đình Kim đáp chuyến bay đến tiểu bang Montana. Vừa đặt chân xuống phi trường, gia đình Kim được các hội viên nhà thờ đón tiếp một cách nồng nhiệt. Mỗi người được trao cho một chiếc áo khoác vừa dầy lại vừa dài đến chân. Tất cả 6 thành viên trong gia đình Kim rối rít cám ơn họ và mặc vào ngay không e ngại gì cả.
Một bà hội viên tên Ann, đại diện cho nhóm, nói gia đình sẽ tách ra đi hai chiếc xe vì không đủ chỗ ngồi. Bà khuyên mọi người nên đeo găng tay và đội nón đan len vì ngoài trời tuyết đang rơi. Ba Kim dặn Kim đi chung xe với ba má còn mấy đứa em thì đi xe khác.
Ngoại trừ ba đã từng đi du học Mỹ khi còn trong lính nên đã quen với khí hậu lạnh và tuyết, còn cả gia đình Kim ai cũng co rúm người khi mở cửa phi trường bước ra ngoài đường. Hàm răng ai nấy không ai bảo ai mà cứ lập cập đánh trống liên hồi. Miệng mọi người phì phà làn khói trắng như người lâu ngày mới được hút thuốc lại nên hút lấy hút để cho đã. Đó là chưa kể những hạt tuyết trắng ngây thơ trong các tác phẩm văn học bây giờ đang bay vù vù chích vào làn da non dại của dân tỵ nạn như những chú ong quyết chí sống còn để bảo vệ tổ ong của chúng.
Gia đình Kim cứ cúi gầm mặt xuống đi cho đỡ lạnh, mặc cho hội viên nhà thờ đẩy vào xe nào cũng được miễn sao tránh cái lạnh thấu xương này. Vào xe hoàn hồn lại, Kim thấy sao chung quanh xe toàn một mầu trắng xóa. Ba Kim hỏi người tài xế Mike, chồng bà Ann:
- Anh có muốn tôi xuống xe cạo tuyết để anh lái xe dễ nhìn thấy đường không?
- Không cần. Anh đừng lo. Tôi lái xe đã mấy chục năm kinh nghiệm. Tuyết rơi hôm nay đâu có nhằm nhò gì!
Ba nhìn cửa kiếng trước mặt ông Mike mà mặt tái xanh, vì chỉ thỉnh thoảng ông mới dùng bàn tay đeo găng quệt quệt vài cái để nhìn phía trước trong khi chân vẫn nhấn xe chạy nhanh trên đường băng tuyết. Ba bảo má và Kim:
- Thôi thế này thì mình chỉ có nước cầu nguyện cho xe không đụng ai và không ai đụng mình. Rõ khổ! Vượt nguyên cái biển Thái Bình rồi ở trại tỵ nạn cực khổ suốt mấy tháng trời thì không sao. Giờ đây cả gia đình phải phó mặc sinh mạng cho người không quen biết.
Ba mươi phút dài đăng đẳng trôi qua. Ông Mike đậu xe trước một căn nhà trắng và bảo mọi người tới nơi rồi. Kim nghĩ trong đầu ông Mỹ này giỏi thật, suốt đường phố nhà cửa cây cối đều phủ một mầu trắng bạc mà ông ấy lái xe về đúng nhà hay thật.
Sau khi vào nhà ông bà Mike uống nước giải khát và ăn vài miếng bánh ngọt, những hội viên khác của nhà thờ kiếu từ ra về trước khi dặn dò gia đình Kim nhớ dậy sớm ngày mai để làm thủ tục xin căn cước và ghi danh cho trẻ con đi học.
Loay hoay thế mà gia đình Kim đã tốn cả tuần để làm những thủ tục định cư cần thiết. Sau hai ngày tạm trú tại nhà ông bà Mike, họ đã giúp gia đình dọn vào một căn nhà nhỏ gần trường học để dễ đi lại. Trong suốt một tuần lễ các hội viên nhà thờ thay phiên nhau đưa đón mọi người đi làm thẻ căn cước, thẻ an sinh xã hội, khám sức khỏe, xin nhập học, đi nhà thờ, đi chợ mua thức ăn, quần áo, và vật dụng cá nhân.
Có lẽ với chị em Kim thì việc đi học trường Mỹ là một biến cố lớn lao trong đời. May sao khi rời Việt Nam ba Kim đã bảo mọi người nhớ đem theo sổ học bạ nên việc nhập học không mấy khó khăn. Bà hiệu trưởng trường tiểu học nhìn theo sổ điểm và cho vào học lớp kế tiếp của trường Việt. Ngoài ra bà cũng sắp xếp một giáo viên chuyên dạy Anh ngữ cho các em của Kim mau hội nhập hơn, vì cả ba đứa chưa học một câu Anh văn nào bên Việt Nam.
Đến phiên Kim ghi danh nhập học trường trung học gần nhà thì chỉ có mình ba đi theo. Kim đưa sổ học bạ cho bà giám thị coi và phiên dịch những môn đã học ở Việt Nam. Nhận thấy điểm học vấn tương đối cao và tiếng Anh không đến nỗi tệ, bà giám thị xếp cho Kim học lớp toán đại số 3, sinh vật học, lịch sử Hoa Kỳ/, Pháp văn, lớp đánh máy, và Humanities. Đang thắc mắc không biết sao nhà trường lại không cho học Anh văn thì bà giám thị bảo:
- Tôi thấy điểm Anh văn của Kim khá cao nên tôi nghĩ Kim có đủ sức học môn Humanities này.
Thật sự Kim không biết Humanities là môn gì. Kim tự phân tích "Human" là người, "ities" nghĩa là thuộc về danh từ, vậy nếu ghép lại chắc đây là môn khoa học cách trí. Gì chứ học về thân thể người ta thì chỉ học thuộc lòng tên đi đôi với hình vẽ là xong nên Kim gật đầu đồng ý học lớp đó. Bà giám thị trao cho Kim tờ giấy ghi tên các lớp học và bảo khi vào lớp tuần sau thầy cô sẽ đưa sách.
Tuần lễ sau bốn chị em Kim chính thức nhập học trường Mỹ. Các em đi vào trường tiểu học còn Kim thì trung học đệ nhị cấp. Khi Kim **vào phòng bà giám thị thì đã có sẵn một cô học sinh cũng tên Kim (chữ tắt của Kimberly). Cô giới thiệu cô là người hướng dẫn đi một vòng trường cho biết lớp học ở đâu. Kim gật đầu chào Kim kia dáng người dong dỏng cao hơn một cái đầu. Đầu óc Kim lúc đó cứ như người máy, ai bảo đâu làm đó. Kimberly nhìn giấy ghi danh lớp học và bảo vẫn còn sớm nên sẽ chỉ chỗ ăn trưa. Nói rồi cô dẫn Kim đi vào phòng ăn cafeteria gần đó. Tại đây đã có một số học sinh đang ăn sáng, một số còn đang chọn lựa các món ăn bỏ vào khay và cuối hàng là trả tiền cho người thâu ngân tùy theo món ăn đã chọn trong khay.
Kế đó Kimberly chỉ phòng chơi thể thao, phòng thí nghiệm, thư viện, rạp hát ở cùng lầu một với phòng ăn và văn phòng hiệu trưởng. Bất thình lình chuông reng, Kimberly nắm tay Kim bảo đi nhanh lên để vào lớp và kéo Kim lên lầu hai rồi chỉ phòng đầu cầu thang:
- Lớp của bạn đó, vào đi. Hồi nữa tôi sẽ trở lại.
Nguyên tuần đầu đi học nếu không nhờ Kimberly chắc chắn Kim đã bị giấy mời lên văn phòng nhiều lần trong ngày vì tội cúp cua (không có mặt tại lớp trong vòng 5 phút sau khi chuông reng). Số là trường trung học này mặc dầu chỉ là một "building" hai tầng nhưng vì xây theo hình vuông với những cánh cửa lớp học giống nhau như đúc cả ở bên trái lẫn bên phải, nên rất dễ bị lạc nếu không để ý số phòng và để ý bốn cầu thang lên lầu hai ở hướng nào, đông, tây, nam, hay bắc. Hơn nữa sau mỗi tiết học, thầy cô cứ ngồi tại lớp của mình, còn học sinh có 5 phút để chạy tới lớp học kế tiếp.
Lần đầu khi chuông reng, Kim tưởng giờ ra chơi nên cứ ngồi trong lớp vì có ai là bạn đâu mà ra chơi. Nào ngờ khi chuông reng lần nữa thì thấy sao học sinh trong lớp không giống như khi nẫy, nhất là ba cô nữ sinh ngồi bàn đầu giờ đã thay thế bằng ba anh nam sinh cao lớn. Đang thắc mắc không biết hỏi ai thì cửa lớp mở và Kimberly bước vào xin phép thầy giáo dẫn Kim ra ngoài. Cô nói lớp kế của Kim là phòng ở hướng Nam chứ không phải phòng này.
Rút kinh nghiệm từ đó trở đi Kim học thuộc lòng bản đồ các lớp học và để ý mọi ngõ ngách của trường phòng khi đi lạc còn biết tìm về chốn cũ, cần thiết nhất là biết hộc tủ "locker" đựng sách của mình ở đâu tại lầu một. Ngoài ra Kim cũng đem theo bửu bối là cuốn tự điển Anh-Việt của trại tỵ nạn phát cho mỗi gia đình.
Có học ở Mỹ mới thấy học sinh ở đây sướng thật! Dựa theo tài liệu trên các trang mạng, Kim được biết Hoa Kỳ có đạo luật "Cưỡng bách giáo dục" đầu tiên vào năm 1852 tại tiểu bang Massachusetts và tới năm 1918 thì đạo luật này được thi hành trên toàn nước Mỹ. Điều này có nghĩa là trẻ em từ 5 tuổi đến 16 hoặc 18 tuổi (số tuổi tùy theo luật tiểu bang) bắt buộc phải được đi học từ tiểu học đến trung học. Nếu học sinh hoặc phụ huynh / người giám hộ không tuân theo luật định và không có lý do chính đáng thì cả hai có thể bị phạt tiền hoặc vào tù.
Tại Hoa Kỳ khi học trường công từ mẫu giáo đến lớp 12, học sinh không cần thi tuyển. Không phải trả học phí hoặc tiền sách giáo khoa trừ khi làm mất sách thì phải trả tiền, và nếu học sinh của gia đình lợi tức thấp thì bữa điểm tâm và bữa ăn trưa sẽ được miễn phí hoặc giảm giá tiền. Bài giảng có sẵn trong sách không cần phải chép lại. Những từ ngữ khó được in đậm và giải thích kèm theo hình ảnh trong bài và cuối sách. Những môn khoa học như vật lý, hóa học, sinh vật học... đều có giờ vào phòng thí nghiệm để khảo sát lại những gì đã học trong phần lý thuyết ở cả bậc trung học lẫn tiểu học.
Trở lại lớp Humanities, khi vào lớp rồi Kim mới biết đó không phải là môn cách trí như đã tưởng, mà có thể nói nó tương đương như môn triết học của Việt Nam. Mỗi khi thầy giảng bài Kim thấy Anh văn của mình càng lúc càng yếu đi. Khi thầy nói tên ông nhà văn này hoặc bà thi sĩ nọ thì các học sinh trong lớp giơ tay lên trả lời trôi chảy trong khi Kim thì cứ như vịt nghe sấm. Lớp này không có sách nên Kim cố gắng viết tất cả lời giảng của thầy vào cuốn vở để về nhà tra tự điển cho dễ.
Một hôm cô bạn tóc vàng kế bên mượn vở để chép lại lời thầy giảng. Kim hớn hở đưa vở cho bạn mượn. Chưa đầy năm giây cô bé đã trả lại cuốn vở và nói không hiểu gì cả. Kim mở vở ra coi lại và cảm thấy khuôn mặt mình nóng bừng. Thảo nào nó đọc không được! Mặc dù chữ viết không đến nỗi gà bới, nhưng ngôn ngữ Kim chú thích trong vở gồm Anh, Pháp, Việt và đôi khi có cả tốc ký tiếng Việt. Thầy Nesbit của lớp này nổi tiếng là thầy dạy hay nhưng cũng là thầy nói nhanh nhất của trường. Để theo học lớp này các học sinh phải tự nghĩ cách ghi chép lời thầy giảng. Do đó khi thầy giảng Kim cố gắng vừa phiên dịch vừa ghi xuống những gì nghe được càng nhanh càng tốt.
Khi Kim than phiền lớp khó với Kimberly thì cô nàng bảo:
- Tôi phụ làm việc trong văn phòng có nghe bà giám thị nói điểm Anh văn của bạn cao như cô du học sinh Việt Nam năm ngoái, nên trường chỉ còn có lớp Anh văn này là hợp với bạn thôi.
Dù ngoài miệng trả lời: "Vậy hả?" nhưng Kim thầm nghĩ "Người ta là du học sinh có nghĩa là đã đánh bại cả ngàn học sinh mới được qua Mỹ học. Còn gia đình Kim qua đây tỵ nạn chứ có phải được đi du học chính thức đâu! Thôi đã phóng lao thì phải theo lao vậy!"
Ba đứa em Kim đi học có vẻ thích thú lắm vì môn toán, thể thao, thủ công, và vẽ đều làm giỏi cả chỉ trừ Anh văn thì lao đao như người say sóng ngoài biển cả. Ba Kim giao việc dạy học các em cho Kim lo vì qua đến tuần thứ hai, ba đã xin được một việc làm 5 ngày một tuần, chuyên tháo ráp và sửa radio cho xe hơi.
Sau khi công việc làm và việc học các con tương đối yên ổn, ba Kim bàn với mẹ cả hai đi học lớp Anh văn tối. Mẹ Kim đồng ý ngay vì suốt ngày ở nhà chỉ nấu nướng bữa sáng và bữa chiều hoài cũng chán. Hơn nữa hồi còn nhỏ mẹ học chương trình Pháp văn nên mỗi khi tiếp chuyện với người bản xứ mẹ chỉ biết cười duyên chứ thật ra mẹ nghe được mà chả hiểu câu nào cả.
Rồi ngày tháng trôi qua, ban ngày chị em Kim đi học đủ các môn học đến chiều về làm bài cho tới tối khuya. Ba Mẹ thì khi cơm chiều vừa xong, hội viên nhà thờ tới nhà chở đến trường tráng niên học lớp Anh văn đàm thoại và văn phạm chung với những người tỵ nạn khác. Nhờ những lớp Anh văn miễn phí này mà sau một năm chăm chỉ học tập, mẹ của Kim đã có đủ vốn liếng sinh ngữ để xin làm chân phụ bếp trong cafeteria trường trung học, vừa có cơ hội thực tập Anh ngữ, vừa có thêm tiền thu nhập hàng tháng để phụ với đồng lương ít ỏi của ba lúc đó chỉ được lãnh $2,25 một giờ.
Giờ đây Kim ngồi nghĩ lại số phận đã đưa đẩy vận mệnh đất nước đổi thay vào tháng Tư oan nghiệt năm 1975, một đìều mà không một người dân miền Nam nào mong muốn. Bao nhiêu gia đình phải chịu cảnh ly tán để chỉ đi tìm hai chữ tự do cho dù phải hy sinh mạng sống, bù lại gia đình Kim và khá đông những gia đình người Việt khác may mắn được đi tỵ nạn và con cái của họ được "du học" vĩnh viễn tại hải ngoại. Người Việt đã trở thành "Bách Việt" khắp nơi trên thế giới. Có lẽ đây là ý Trời!
Nguyễn Thi
http://www.vietbao.com/?ppid=74&pid=51&nid=153223
Tác giả: Nguyễn Thi
Bài số 2810-1628880- vb2121409
Tác giả là cư dân Bắc California, đã nhận giải đặc biệt viết về nước Mỹ 2008 với nhiều bài viết giá trị về nhà trường và gia đình. Bà hiện là một Facilitator -giúp hướng dẫn những buổi học thảo nói về hệ thống học đường tại California. Bài mới của bà là một tự truyện thời mới đến Hoa Kỳ để trả lời câu hỏi làm sao hội nhập vào đời sống Mỹ.
***
Mấy ngày hôm nay thời tiết bỗng thay đổi bất thường. Bầu trời vùng Bắc California biến thành một mầu xám xịt, bao trùm gió buốt mùa đông đi kèm theo vài cơn mưa tuyết làm lũ trẻ con ngạc nhiên, hý hửng ra sân chơi trò ném tuyết và làm người tuyết.
Nhìn xe cộ chạy chậm chạp dưới đường phố qua khung cửa, Kim nhớ lại lời các bạn đồng nghiệp cứ đốc thúc Kim phải viết đề tài làm sao hội nhập vào đời sống khi mới đến Hoa Kỳ để đại diện nhóm phát biểu trong ngày Lễ Giáng Sinh sắp đến. Bắt đầu từ đâu bây giờ? Thôi thì cứ trả lời theo thứ tự "thời gian, không gian, cái gì, ai đó, và làm sao" như lời thầy cô đã dạy trong trường vậy!
Gia đình Kim cuối cùng rồi cũng được ra khỏi trại tỵ nạn Camp Pendleton, sau hai tháng dài chờ người bảo trợ. Số là gia đình Kim có tới 6 người gồm ba má và 4 đứa con nít. Quả là một gánh nặng cho những ai muốn bảo trợ. Ba Kim nói khi đi phỏng vấn có nhiều ông chủ biết ba có tay nghề sửa tivi và radio nên họ muốn đưa ba ra khỏi trại, nhưng lúc nghe nói đến bầu thê tử dài lê thê thì ai cũng lắc đầu từ chối.
Ngày ngày thấy ba vẫn lên lều trưởng trại giúp việc mà chưa động đậy việc định cư, anh lính Mỹ thủy quân lục chiến làm việc cùng lều hỏi ba có muốn anh ấy nhờ nhà thờ của anh bảo trợ hay không? Ba hỏi nhà thờ ở đâu thì anh ấy nói ở Montana. Ba liền về bàn với gia đình:
- Tính ra thì gia đình mình rời Việt Nam từ cuối tháng 4/75. Lênh đênh trên biển cả tuần mới tới Phi luật tân. Rồi ở đảo Guam hơn hai tháng mới đến Camp Pendleton, California. Bây giờ ở đây cũng gần hai tháng mà chưa ai bảo trợ ra khỏi trại. Kim có biết gì về tiểu bang Montana không?
- Con chỉ nhớ hồi đó học "English for Today" thầy giáo có nói Montana là xứ của thổ dân mọi da đỏ.
Ba biết là hỏi má cũng bằng thừa vì má chả biết gì về nước Mỹ cả nên ba quyết định.
- Ba nghĩ là chúng ta đành phải nhờ nhà thờ bảo trợ vậy vì ba nghe nói tháng 9 là học sinh bắt đầu tựu trường. Hơn nữa nếu anh lính Mỹ da trắng cao ráo và gia đình anh sống ở Montana được thì mình cũng ở được!
Thế là hôm sau ba gặp anh lính thủy quân lục chiến và nhờ anh làm thủ tục nhờ nhà thờ anh bảo trợ. Gần cuối tháng 8, 1975, gia đình Kim đáp chuyến bay đến tiểu bang Montana. Vừa đặt chân xuống phi trường, gia đình Kim được các hội viên nhà thờ đón tiếp một cách nồng nhiệt. Mỗi người được trao cho một chiếc áo khoác vừa dầy lại vừa dài đến chân. Tất cả 6 thành viên trong gia đình Kim rối rít cám ơn họ và mặc vào ngay không e ngại gì cả.
Một bà hội viên tên Ann, đại diện cho nhóm, nói gia đình sẽ tách ra đi hai chiếc xe vì không đủ chỗ ngồi. Bà khuyên mọi người nên đeo găng tay và đội nón đan len vì ngoài trời tuyết đang rơi. Ba Kim dặn Kim đi chung xe với ba má còn mấy đứa em thì đi xe khác.
Ngoại trừ ba đã từng đi du học Mỹ khi còn trong lính nên đã quen với khí hậu lạnh và tuyết, còn cả gia đình Kim ai cũng co rúm người khi mở cửa phi trường bước ra ngoài đường. Hàm răng ai nấy không ai bảo ai mà cứ lập cập đánh trống liên hồi. Miệng mọi người phì phà làn khói trắng như người lâu ngày mới được hút thuốc lại nên hút lấy hút để cho đã. Đó là chưa kể những hạt tuyết trắng ngây thơ trong các tác phẩm văn học bây giờ đang bay vù vù chích vào làn da non dại của dân tỵ nạn như những chú ong quyết chí sống còn để bảo vệ tổ ong của chúng.
Gia đình Kim cứ cúi gầm mặt xuống đi cho đỡ lạnh, mặc cho hội viên nhà thờ đẩy vào xe nào cũng được miễn sao tránh cái lạnh thấu xương này. Vào xe hoàn hồn lại, Kim thấy sao chung quanh xe toàn một mầu trắng xóa. Ba Kim hỏi người tài xế Mike, chồng bà Ann:
- Anh có muốn tôi xuống xe cạo tuyết để anh lái xe dễ nhìn thấy đường không?
- Không cần. Anh đừng lo. Tôi lái xe đã mấy chục năm kinh nghiệm. Tuyết rơi hôm nay đâu có nhằm nhò gì!
Ba nhìn cửa kiếng trước mặt ông Mike mà mặt tái xanh, vì chỉ thỉnh thoảng ông mới dùng bàn tay đeo găng quệt quệt vài cái để nhìn phía trước trong khi chân vẫn nhấn xe chạy nhanh trên đường băng tuyết. Ba bảo má và Kim:
- Thôi thế này thì mình chỉ có nước cầu nguyện cho xe không đụng ai và không ai đụng mình. Rõ khổ! Vượt nguyên cái biển Thái Bình rồi ở trại tỵ nạn cực khổ suốt mấy tháng trời thì không sao. Giờ đây cả gia đình phải phó mặc sinh mạng cho người không quen biết.
Ba mươi phút dài đăng đẳng trôi qua. Ông Mike đậu xe trước một căn nhà trắng và bảo mọi người tới nơi rồi. Kim nghĩ trong đầu ông Mỹ này giỏi thật, suốt đường phố nhà cửa cây cối đều phủ một mầu trắng bạc mà ông ấy lái xe về đúng nhà hay thật.
Sau khi vào nhà ông bà Mike uống nước giải khát và ăn vài miếng bánh ngọt, những hội viên khác của nhà thờ kiếu từ ra về trước khi dặn dò gia đình Kim nhớ dậy sớm ngày mai để làm thủ tục xin căn cước và ghi danh cho trẻ con đi học.
Loay hoay thế mà gia đình Kim đã tốn cả tuần để làm những thủ tục định cư cần thiết. Sau hai ngày tạm trú tại nhà ông bà Mike, họ đã giúp gia đình dọn vào một căn nhà nhỏ gần trường học để dễ đi lại. Trong suốt một tuần lễ các hội viên nhà thờ thay phiên nhau đưa đón mọi người đi làm thẻ căn cước, thẻ an sinh xã hội, khám sức khỏe, xin nhập học, đi nhà thờ, đi chợ mua thức ăn, quần áo, và vật dụng cá nhân.
Có lẽ với chị em Kim thì việc đi học trường Mỹ là một biến cố lớn lao trong đời. May sao khi rời Việt Nam ba Kim đã bảo mọi người nhớ đem theo sổ học bạ nên việc nhập học không mấy khó khăn. Bà hiệu trưởng trường tiểu học nhìn theo sổ điểm và cho vào học lớp kế tiếp của trường Việt. Ngoài ra bà cũng sắp xếp một giáo viên chuyên dạy Anh ngữ cho các em của Kim mau hội nhập hơn, vì cả ba đứa chưa học một câu Anh văn nào bên Việt Nam.
Đến phiên Kim ghi danh nhập học trường trung học gần nhà thì chỉ có mình ba đi theo. Kim đưa sổ học bạ cho bà giám thị coi và phiên dịch những môn đã học ở Việt Nam. Nhận thấy điểm học vấn tương đối cao và tiếng Anh không đến nỗi tệ, bà giám thị xếp cho Kim học lớp toán đại số 3, sinh vật học, lịch sử Hoa Kỳ/, Pháp văn, lớp đánh máy, và Humanities. Đang thắc mắc không biết sao nhà trường lại không cho học Anh văn thì bà giám thị bảo:
- Tôi thấy điểm Anh văn của Kim khá cao nên tôi nghĩ Kim có đủ sức học môn Humanities này.
Thật sự Kim không biết Humanities là môn gì. Kim tự phân tích "Human" là người, "ities" nghĩa là thuộc về danh từ, vậy nếu ghép lại chắc đây là môn khoa học cách trí. Gì chứ học về thân thể người ta thì chỉ học thuộc lòng tên đi đôi với hình vẽ là xong nên Kim gật đầu đồng ý học lớp đó. Bà giám thị trao cho Kim tờ giấy ghi tên các lớp học và bảo khi vào lớp tuần sau thầy cô sẽ đưa sách.
Tuần lễ sau bốn chị em Kim chính thức nhập học trường Mỹ. Các em đi vào trường tiểu học còn Kim thì trung học đệ nhị cấp. Khi Kim **vào phòng bà giám thị thì đã có sẵn một cô học sinh cũng tên Kim (chữ tắt của Kimberly). Cô giới thiệu cô là người hướng dẫn đi một vòng trường cho biết lớp học ở đâu. Kim gật đầu chào Kim kia dáng người dong dỏng cao hơn một cái đầu. Đầu óc Kim lúc đó cứ như người máy, ai bảo đâu làm đó. Kimberly nhìn giấy ghi danh lớp học và bảo vẫn còn sớm nên sẽ chỉ chỗ ăn trưa. Nói rồi cô dẫn Kim đi vào phòng ăn cafeteria gần đó. Tại đây đã có một số học sinh đang ăn sáng, một số còn đang chọn lựa các món ăn bỏ vào khay và cuối hàng là trả tiền cho người thâu ngân tùy theo món ăn đã chọn trong khay.
Kế đó Kimberly chỉ phòng chơi thể thao, phòng thí nghiệm, thư viện, rạp hát ở cùng lầu một với phòng ăn và văn phòng hiệu trưởng. Bất thình lình chuông reng, Kimberly nắm tay Kim bảo đi nhanh lên để vào lớp và kéo Kim lên lầu hai rồi chỉ phòng đầu cầu thang:
- Lớp của bạn đó, vào đi. Hồi nữa tôi sẽ trở lại.
Nguyên tuần đầu đi học nếu không nhờ Kimberly chắc chắn Kim đã bị giấy mời lên văn phòng nhiều lần trong ngày vì tội cúp cua (không có mặt tại lớp trong vòng 5 phút sau khi chuông reng). Số là trường trung học này mặc dầu chỉ là một "building" hai tầng nhưng vì xây theo hình vuông với những cánh cửa lớp học giống nhau như đúc cả ở bên trái lẫn bên phải, nên rất dễ bị lạc nếu không để ý số phòng và để ý bốn cầu thang lên lầu hai ở hướng nào, đông, tây, nam, hay bắc. Hơn nữa sau mỗi tiết học, thầy cô cứ ngồi tại lớp của mình, còn học sinh có 5 phút để chạy tới lớp học kế tiếp.
Lần đầu khi chuông reng, Kim tưởng giờ ra chơi nên cứ ngồi trong lớp vì có ai là bạn đâu mà ra chơi. Nào ngờ khi chuông reng lần nữa thì thấy sao học sinh trong lớp không giống như khi nẫy, nhất là ba cô nữ sinh ngồi bàn đầu giờ đã thay thế bằng ba anh nam sinh cao lớn. Đang thắc mắc không biết hỏi ai thì cửa lớp mở và Kimberly bước vào xin phép thầy giáo dẫn Kim ra ngoài. Cô nói lớp kế của Kim là phòng ở hướng Nam chứ không phải phòng này.
Rút kinh nghiệm từ đó trở đi Kim học thuộc lòng bản đồ các lớp học và để ý mọi ngõ ngách của trường phòng khi đi lạc còn biết tìm về chốn cũ, cần thiết nhất là biết hộc tủ "locker" đựng sách của mình ở đâu tại lầu một. Ngoài ra Kim cũng đem theo bửu bối là cuốn tự điển Anh-Việt của trại tỵ nạn phát cho mỗi gia đình.
Có học ở Mỹ mới thấy học sinh ở đây sướng thật! Dựa theo tài liệu trên các trang mạng, Kim được biết Hoa Kỳ có đạo luật "Cưỡng bách giáo dục" đầu tiên vào năm 1852 tại tiểu bang Massachusetts và tới năm 1918 thì đạo luật này được thi hành trên toàn nước Mỹ. Điều này có nghĩa là trẻ em từ 5 tuổi đến 16 hoặc 18 tuổi (số tuổi tùy theo luật tiểu bang) bắt buộc phải được đi học từ tiểu học đến trung học. Nếu học sinh hoặc phụ huynh / người giám hộ không tuân theo luật định và không có lý do chính đáng thì cả hai có thể bị phạt tiền hoặc vào tù.
Tại Hoa Kỳ khi học trường công từ mẫu giáo đến lớp 12, học sinh không cần thi tuyển. Không phải trả học phí hoặc tiền sách giáo khoa trừ khi làm mất sách thì phải trả tiền, và nếu học sinh của gia đình lợi tức thấp thì bữa điểm tâm và bữa ăn trưa sẽ được miễn phí hoặc giảm giá tiền. Bài giảng có sẵn trong sách không cần phải chép lại. Những từ ngữ khó được in đậm và giải thích kèm theo hình ảnh trong bài và cuối sách. Những môn khoa học như vật lý, hóa học, sinh vật học... đều có giờ vào phòng thí nghiệm để khảo sát lại những gì đã học trong phần lý thuyết ở cả bậc trung học lẫn tiểu học.
Trở lại lớp Humanities, khi vào lớp rồi Kim mới biết đó không phải là môn cách trí như đã tưởng, mà có thể nói nó tương đương như môn triết học của Việt Nam. Mỗi khi thầy giảng bài Kim thấy Anh văn của mình càng lúc càng yếu đi. Khi thầy nói tên ông nhà văn này hoặc bà thi sĩ nọ thì các học sinh trong lớp giơ tay lên trả lời trôi chảy trong khi Kim thì cứ như vịt nghe sấm. Lớp này không có sách nên Kim cố gắng viết tất cả lời giảng của thầy vào cuốn vở để về nhà tra tự điển cho dễ.
Một hôm cô bạn tóc vàng kế bên mượn vở để chép lại lời thầy giảng. Kim hớn hở đưa vở cho bạn mượn. Chưa đầy năm giây cô bé đã trả lại cuốn vở và nói không hiểu gì cả. Kim mở vở ra coi lại và cảm thấy khuôn mặt mình nóng bừng. Thảo nào nó đọc không được! Mặc dù chữ viết không đến nỗi gà bới, nhưng ngôn ngữ Kim chú thích trong vở gồm Anh, Pháp, Việt và đôi khi có cả tốc ký tiếng Việt. Thầy Nesbit của lớp này nổi tiếng là thầy dạy hay nhưng cũng là thầy nói nhanh nhất của trường. Để theo học lớp này các học sinh phải tự nghĩ cách ghi chép lời thầy giảng. Do đó khi thầy giảng Kim cố gắng vừa phiên dịch vừa ghi xuống những gì nghe được càng nhanh càng tốt.
Khi Kim than phiền lớp khó với Kimberly thì cô nàng bảo:
- Tôi phụ làm việc trong văn phòng có nghe bà giám thị nói điểm Anh văn của bạn cao như cô du học sinh Việt Nam năm ngoái, nên trường chỉ còn có lớp Anh văn này là hợp với bạn thôi.
Dù ngoài miệng trả lời: "Vậy hả?" nhưng Kim thầm nghĩ "Người ta là du học sinh có nghĩa là đã đánh bại cả ngàn học sinh mới được qua Mỹ học. Còn gia đình Kim qua đây tỵ nạn chứ có phải được đi du học chính thức đâu! Thôi đã phóng lao thì phải theo lao vậy!"
Ba đứa em Kim đi học có vẻ thích thú lắm vì môn toán, thể thao, thủ công, và vẽ đều làm giỏi cả chỉ trừ Anh văn thì lao đao như người say sóng ngoài biển cả. Ba Kim giao việc dạy học các em cho Kim lo vì qua đến tuần thứ hai, ba đã xin được một việc làm 5 ngày một tuần, chuyên tháo ráp và sửa radio cho xe hơi.
Sau khi công việc làm và việc học các con tương đối yên ổn, ba Kim bàn với mẹ cả hai đi học lớp Anh văn tối. Mẹ Kim đồng ý ngay vì suốt ngày ở nhà chỉ nấu nướng bữa sáng và bữa chiều hoài cũng chán. Hơn nữa hồi còn nhỏ mẹ học chương trình Pháp văn nên mỗi khi tiếp chuyện với người bản xứ mẹ chỉ biết cười duyên chứ thật ra mẹ nghe được mà chả hiểu câu nào cả.
Rồi ngày tháng trôi qua, ban ngày chị em Kim đi học đủ các môn học đến chiều về làm bài cho tới tối khuya. Ba Mẹ thì khi cơm chiều vừa xong, hội viên nhà thờ tới nhà chở đến trường tráng niên học lớp Anh văn đàm thoại và văn phạm chung với những người tỵ nạn khác. Nhờ những lớp Anh văn miễn phí này mà sau một năm chăm chỉ học tập, mẹ của Kim đã có đủ vốn liếng sinh ngữ để xin làm chân phụ bếp trong cafeteria trường trung học, vừa có cơ hội thực tập Anh ngữ, vừa có thêm tiền thu nhập hàng tháng để phụ với đồng lương ít ỏi của ba lúc đó chỉ được lãnh $2,25 một giờ.
Giờ đây Kim ngồi nghĩ lại số phận đã đưa đẩy vận mệnh đất nước đổi thay vào tháng Tư oan nghiệt năm 1975, một đìều mà không một người dân miền Nam nào mong muốn. Bao nhiêu gia đình phải chịu cảnh ly tán để chỉ đi tìm hai chữ tự do cho dù phải hy sinh mạng sống, bù lại gia đình Kim và khá đông những gia đình người Việt khác may mắn được đi tỵ nạn và con cái của họ được "du học" vĩnh viễn tại hải ngoại. Người Việt đã trở thành "Bách Việt" khắp nơi trên thế giới. Có lẽ đây là ý Trời!
Nguyễn Thi
http://www.vietbao.com/?ppid=74&pid=51&nid=153223
Wednesday, May 20, 2009
Saturday, May 16, 2009
Những trường với học phí thấp nhưng rất đáng học
Những trường với học phí thấp nhưng rất đáng học
Tuesday, December 02, 2008
Phạm Khoa
Sau bài “Học phí những trường nào cao nhất nước Mỹ”, chúng tôi đã nhận được thư một số độc giả thắc mắc về việc tại sao không giới thiêu những trường có học phí thấp. Tuy thắc mắc này có vẻ hợp lý song không thể không quan tâm đến tương quan giữa học phí với lợi ích sau khi tốt nghiệp do chất lượng đào tạo của trường, mức độ thừa nhận của xã hội và… chi phí thật.
“Chi phí thật” là học phí cộng chi phí sinh hoạt mà sinh viên phải trả sau khi đã trừ các khoản bảo trợ của chính phủ và của trường. Ở một số trường, tuy học phí được công bố khá cao nhưng chi phí thật của sinh viên lại rất thấp vì trường bảo trợ phần lớn học phí. Tất nhiên mức bảo trợ cho mỗi sinh viên sẽ thay đổi tùy theo khả năng tài chính và điểm học của từng sinh viên. Vì vậy, người ta chỉ có thể ước lượng tổng quát về “chi phí thật” bằng cách tính số nợ trung bình mà sinh viên phải vay.
Tổ chức Kiplinger đã nghiên cứu 120 đại học công lập trong số 500 trường hội đủ các điều kiện về chất lượng theo tiêu chuẩn do họ định trước và xếp hạng các trường này về mức “đáng tiền”.
Những trường được đưa vào xếp hạng hội đủ một số tiêu chí về chất lượng như: tỉ lệ sinh viên nhập học đạt điểm SAT ít nhất 600, tỉ lệ ứng viên được nhận nhập học, tỉ lệ giảng viên/sinh viên và tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp sau 4 năm và 6 năm.
Sau đó, các trường này tiếp tục được xem xét, xếp hạng dựa vào các tiêu chí: Tổng học phí cho sinh viên thường trú tại tiểu bang, chi phí trung bình/sinh viên sau khi trừ đi các khoản được bảo trợ, tỉ lệ nhu cầu tài chính được chính phủ/trường bảo trợ và nợ trung bình của sinh viên khi tốt nghiệp.
Đứng đầu danh sách những trường “đáng tiền” nhất là University of North Carolina - Chapel Hill, với chi phí chung cho một năm học là $13,730, chi phí trung bình sau khi được bảo trợ là $4,960 và nợ trung bình khi tốt nghiệp là $14,912.
Dưới đây là 20 trường đứng đầu bảng xếp hạng kể trên để quí độc giả tham khảo. Những số liệu trong bảng này căn cứ vào các dữ liệu được ước định cho năm 2009.
Xếp hạng 2009, thường trú
Xếp hạng 2009, không thường trú
Trường
Tiểu bang
Số sinh viên
Tỉ lệ được nhận học
Tỉ lệ tốt nghiệp sau 4 năm
Chi phí tổng cộng, thường trú
Chi phí tổng cộng sau khi được bảo trợ, thường trú
Chi phí tổng cộng, không thường trú
Tỉ lệ nhu cầu tài chính được bảo trợ
Nợ trung bình khi tôt nghiệp
Xếp hạng uy tín theo US News
1
3
University of North Carolina at Chapel Hill
NC
17,628
35%
71%
$13,731
$4,960
$30,629
100%
$14,912
30
2
4
University of Florida
FL
35,189
42%
53.50%
$11,888
$6,486
$28,733
83%
$14,988
49
3
8
University of Virginia
VA
15,078
35%
84.10%
$18,460
$4,284
$38,760
100%
$16,847
23
4
14
University of Georgia
GA
25,335
55%
48.20%
$14,458
$7,918
$30,770
75%
$14,420
58
5
9
College of William and Mary
VA
5,792
34%
83.10%
$19,156
$6,272
$38,236
86%
$15,602
32
6
2
SUNY Geneseo
NY
5,395
36%
63.30%
$15,528
$12,092
$21,788
85%
$18,300
N/A
7
1
SUNY Binghamton
NY
11,515
39%
67%
$16,000
$10,750
$22,260
79%
$14,530
77
8
49
New College of Florida
FL
767
57%
43.30%
$12,391
$4,222
$32,029
96%
$11,720
N/A
9
13
University of Maryland, College Park
MD
25,813
47%
58.40%
$17,848
$12,414
$32,087
54%
$18,958
53
10
7
University of California, San Diego
CA
22,048
40%
53.10%
$20,372
$9,367
$32,918
82%
$15,904
35
11
32
University of Washington
WA
28,570
65%
48.30%
$16,477
$7,677
$32,894
85%
$16,100
41
12
11
University of California, Berkeley
CA
24,636
23%
60.90%
$23,418
$11,552
$44,026
88%
$14,453
21
13
17
University of California, Los Angeles
CA
25,928
24%
66.10%
$21,995
$10,659
$42,603
81%
$16,220
25
14
15
University of Wisconsin - Madison
WI
30,618
56%
47%
$16,258
$12,939
$30,508
84%
$21,018
35
15
24
Virginia Polytechnic Institute and State Univ.
VA
23,041
67%
51.70%
$14,698
$9,847
$27,325
68%
$20,209
71
16
54
Georgia Institute of Technology
GA
12,565
63%
33.10%
$14,734
$9,543
$33,876
67%
$21,436
35
17
33
Florida State University
FL
31,595
55%
47.60%
$13,394
$9,775
$27,838
74%
$13,855
102
18
19
North Carolina State University
NC
24,145
60%
37%
$14,186
$6,504
$26,484
81%
$14,930
83
19
31
University of Texas at Austin
TX
37,459
51%
47.20%
$17,739
$11,439
$39,155
90%
$16,800
47
20
5
Truman State University
MO
5,608
81%
45.70%
$14,097
$11,079
$18,948
80%
$17,091
N/A
Những Bài Liên Quan:
* Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 1) (Friday, March 28, 2008 12:38:14 PM)
Khá nhiều trường đại học nổi tiếng có khuynh hướng tuyển những sinh viên ưu tú nhất và cố gắng bảo trợ toàn bộ chi phí. Tuy nhiên, ở hầu hết các trường khác, chế độ bảo trợ “financial aid” có thể rất phức tạp và nhiều ngóc ngách. Làm sao để được nhận vào những trường tốt nhất đồng thời hạn chế tối đa số tiền phải vay? Dưới đây là một số thông tin bạn cần biết…
* Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 2) (Wednesday, April 02, 2008 12:45:13 PM)
Các khoản bảo trợ của Chính phủ được cấp theo mức EFC hoặc theo điểm GPA của sinh viên. Các qui chế này khá rõ ràng. Nhưng các khoản tài trợ này có những giới hạn nhất định, nên sinh viên còn cần thêm tài trợ từ phía trường. Đa số các trường không bảo trợ toàn bộ. Mức bảo trợ của họ căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, khá phức tạp và không được công bố rộng rãi.
* Học phí những trường nào cao nhất nước Mỹ? (Friday, October 31, 2008 10:07:56 AM)
Chi phí học đại học tiếp tục tăng. Theo College Board, năm học 2008-2009, chi phí học đại học tăng 5.7% so với năm 2007-2008.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=87590&z=150
Tuesday, December 02, 2008
Phạm Khoa
Sau bài “Học phí những trường nào cao nhất nước Mỹ”, chúng tôi đã nhận được thư một số độc giả thắc mắc về việc tại sao không giới thiêu những trường có học phí thấp. Tuy thắc mắc này có vẻ hợp lý song không thể không quan tâm đến tương quan giữa học phí với lợi ích sau khi tốt nghiệp do chất lượng đào tạo của trường, mức độ thừa nhận của xã hội và… chi phí thật.
“Chi phí thật” là học phí cộng chi phí sinh hoạt mà sinh viên phải trả sau khi đã trừ các khoản bảo trợ của chính phủ và của trường. Ở một số trường, tuy học phí được công bố khá cao nhưng chi phí thật của sinh viên lại rất thấp vì trường bảo trợ phần lớn học phí. Tất nhiên mức bảo trợ cho mỗi sinh viên sẽ thay đổi tùy theo khả năng tài chính và điểm học của từng sinh viên. Vì vậy, người ta chỉ có thể ước lượng tổng quát về “chi phí thật” bằng cách tính số nợ trung bình mà sinh viên phải vay.
Tổ chức Kiplinger đã nghiên cứu 120 đại học công lập trong số 500 trường hội đủ các điều kiện về chất lượng theo tiêu chuẩn do họ định trước và xếp hạng các trường này về mức “đáng tiền”.
Những trường được đưa vào xếp hạng hội đủ một số tiêu chí về chất lượng như: tỉ lệ sinh viên nhập học đạt điểm SAT ít nhất 600, tỉ lệ ứng viên được nhận nhập học, tỉ lệ giảng viên/sinh viên và tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp sau 4 năm và 6 năm.
Sau đó, các trường này tiếp tục được xem xét, xếp hạng dựa vào các tiêu chí: Tổng học phí cho sinh viên thường trú tại tiểu bang, chi phí trung bình/sinh viên sau khi trừ đi các khoản được bảo trợ, tỉ lệ nhu cầu tài chính được chính phủ/trường bảo trợ và nợ trung bình của sinh viên khi tốt nghiệp.
Đứng đầu danh sách những trường “đáng tiền” nhất là University of North Carolina - Chapel Hill, với chi phí chung cho một năm học là $13,730, chi phí trung bình sau khi được bảo trợ là $4,960 và nợ trung bình khi tốt nghiệp là $14,912.
Dưới đây là 20 trường đứng đầu bảng xếp hạng kể trên để quí độc giả tham khảo. Những số liệu trong bảng này căn cứ vào các dữ liệu được ước định cho năm 2009.
Xếp hạng 2009, thường trú
Xếp hạng 2009, không thường trú
Trường
Tiểu bang
Số sinh viên
Tỉ lệ được nhận học
Tỉ lệ tốt nghiệp sau 4 năm
Chi phí tổng cộng, thường trú
Chi phí tổng cộng sau khi được bảo trợ, thường trú
Chi phí tổng cộng, không thường trú
Tỉ lệ nhu cầu tài chính được bảo trợ
Nợ trung bình khi tôt nghiệp
Xếp hạng uy tín theo US News
1
3
University of North Carolina at Chapel Hill
NC
17,628
35%
71%
$13,731
$4,960
$30,629
100%
$14,912
30
2
4
University of Florida
FL
35,189
42%
53.50%
$11,888
$6,486
$28,733
83%
$14,988
49
3
8
University of Virginia
VA
15,078
35%
84.10%
$18,460
$4,284
$38,760
100%
$16,847
23
4
14
University of Georgia
GA
25,335
55%
48.20%
$14,458
$7,918
$30,770
75%
$14,420
58
5
9
College of William and Mary
VA
5,792
34%
83.10%
$19,156
$6,272
$38,236
86%
$15,602
32
6
2
SUNY Geneseo
NY
5,395
36%
63.30%
$15,528
$12,092
$21,788
85%
$18,300
N/A
7
1
SUNY Binghamton
NY
11,515
39%
67%
$16,000
$10,750
$22,260
79%
$14,530
77
8
49
New College of Florida
FL
767
57%
43.30%
$12,391
$4,222
$32,029
96%
$11,720
N/A
9
13
University of Maryland, College Park
MD
25,813
47%
58.40%
$17,848
$12,414
$32,087
54%
$18,958
53
10
7
University of California, San Diego
CA
22,048
40%
53.10%
$20,372
$9,367
$32,918
82%
$15,904
35
11
32
University of Washington
WA
28,570
65%
48.30%
$16,477
$7,677
$32,894
85%
$16,100
41
12
11
University of California, Berkeley
CA
24,636
23%
60.90%
$23,418
$11,552
$44,026
88%
$14,453
21
13
17
University of California, Los Angeles
CA
25,928
24%
66.10%
$21,995
$10,659
$42,603
81%
$16,220
25
14
15
University of Wisconsin - Madison
WI
30,618
56%
47%
$16,258
$12,939
$30,508
84%
$21,018
35
15
24
Virginia Polytechnic Institute and State Univ.
VA
23,041
67%
51.70%
$14,698
$9,847
$27,325
68%
$20,209
71
16
54
Georgia Institute of Technology
GA
12,565
63%
33.10%
$14,734
$9,543
$33,876
67%
$21,436
35
17
33
Florida State University
FL
31,595
55%
47.60%
$13,394
$9,775
$27,838
74%
$13,855
102
18
19
North Carolina State University
NC
24,145
60%
37%
$14,186
$6,504
$26,484
81%
$14,930
83
19
31
University of Texas at Austin
TX
37,459
51%
47.20%
$17,739
$11,439
$39,155
90%
$16,800
47
20
5
Truman State University
MO
5,608
81%
45.70%
$14,097
$11,079
$18,948
80%
$17,091
N/A
Những Bài Liên Quan:
* Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 1) (Friday, March 28, 2008 12:38:14 PM)
Khá nhiều trường đại học nổi tiếng có khuynh hướng tuyển những sinh viên ưu tú nhất và cố gắng bảo trợ toàn bộ chi phí. Tuy nhiên, ở hầu hết các trường khác, chế độ bảo trợ “financial aid” có thể rất phức tạp và nhiều ngóc ngách. Làm sao để được nhận vào những trường tốt nhất đồng thời hạn chế tối đa số tiền phải vay? Dưới đây là một số thông tin bạn cần biết…
* Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 2) (Wednesday, April 02, 2008 12:45:13 PM)
Các khoản bảo trợ của Chính phủ được cấp theo mức EFC hoặc theo điểm GPA của sinh viên. Các qui chế này khá rõ ràng. Nhưng các khoản tài trợ này có những giới hạn nhất định, nên sinh viên còn cần thêm tài trợ từ phía trường. Đa số các trường không bảo trợ toàn bộ. Mức bảo trợ của họ căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, khá phức tạp và không được công bố rộng rãi.
* Học phí những trường nào cao nhất nước Mỹ? (Friday, October 31, 2008 10:07:56 AM)
Chi phí học đại học tiếp tục tăng. Theo College Board, năm học 2008-2009, chi phí học đại học tăng 5.7% so với năm 2007-2008.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=87590&z=150
Subscribe to:
Posts (Atom)